Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Lê Tùng Minh

 

TRẦN BẠCH ĐẰNG (I)

NGƯỜI CỘNG SẢN ĐA TÀI, NHƯNG BẤT ĐẮC CHÍ CHO ĐẾN KHI NHẮM MẮT LÌA ĐỜI!

 

= Ảnh Trần Bạch Đằng                                                             

 

Trần Bạch Đằng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 16 tháng 4 năm 2007, thì đài BBC nhạy cảm đã phỏng vấn liên tiếp 3 vị: Nhà báo Phan Quang nguyên Tổng Thư Ký Hội Nhà Báo Việt Nam sau 1975). Nhà văn Đặng Tiến (cư ngụ tại Pháp quốc). Ông Bui Tín, nguyên Đại tá, Tổng Biên Tập Báo Nhân Dân Chủ Nhật, tị nạn chính trị tại Paris (Pháp) từ năm 1990.


Đầu tháng 5-2007, trên mạng lưới internet “Tin Paris” có xuất hiện bài “Chiến tranh Việt Nam – Ván bài đã lật ngửa” của ông/bà Lê Quế Lâm (?), mà nội dung chính là viết về Trần Bạch Đằng, nhưng trong đó – không biết tác giả nghiên cứu từ nguồn tài liệu nào, hay nghe ai nói, chẳng lẽ Trần Bạch Đằng đã kể cho tác giả nghe?   

    

Tuy không biết tường tận mọi điều về ông Trần Bạch Đằng, nhưng chúng tôi hiểu khá rõ trên những nét căn bản về ông. Cho nên, chúng tôi công bố bài viết này, và có những chi tiết (sự thật) không đúng như các vị ở trên nói! Chúng tôi không có ý nói ai sai, ai đúng, mà chỉ mong, với bài nghiên cứu này, có thể cống hiến cho bạn đọc ở hải ngoại - đặc biệt đối với những ai muốn biết về ông Trần Bạch Đằng -- NGƯỜI CỘNG SẢN ĐA TÀI, NHƯNG BẤT ĐẮC CHÍ CHO ĐẾN KHI NHẮM MẮT, LÌA ĐỜI!

                                          

*

 

Trần Bạch Đằng tên thật là Trương Gia Triều, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1926 tại Giồng Riềng - Rạch Giá (Kiên Giang ngày nay). Cha ông là một nhà báo nổi tiếng ở Ban Kỳ, trong những năm 1930 – ông Trương Gia Kỳ Sanh (xin đừng nhầm lẫn với “Trương Gia Kỳ Sanh”, dân biểu dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa – Miên Nam Việt Nam – 1965-1975).

    

Năm 17 tuổi (1943) Trương Gia Triều vừa tốt nghiệp Ban Thành Chung (Diplôme), thì không học tiếp Ban Tú Tài (Brevé) mà đi tham gia Phong Trào Thanh Niẻn Giải Phóng do Xứ ủy Cộng sản Nam kỳ lãnh đạo” (1944). Trương Gia Triều được phân công làm công tác vận động Thanh niên và Học sinh – Sinh viên thành phố Sàigòn. Trương Gia Triều đổi tên là Trần Bạch Đằng từ đó. Cuối năm 1944, Trần Bạch Đằng đã được Thành ủy Cộng Sản Sàigòn kết nạp vào Đảng CSVN.

    

Mùa Thu năm 1945, Trần Bạch Đằng được Thành ủy Sàigòn cử làm Đoàn trưởng Thanh Niên Cứu Quốc Thành phố Sàigòn (năm 20 tuổi), để lãnh đạo Thanh Niên Sàigòn tham gia cướp chính quyền tại Sàigòn (23-8-1945). Trong những ngày Cách Mạng Tháng Tám do Đảng CSVN lãnh đạo (núp dưới danh nghĩa Mặt Trận Việt Minh), Trần Bạch Đằng đã được Xứ ủy Cộng sản Nam kỳ (do Trần Văn Giàu làm Bí thư) đánh giá là “một Cán bộ Lãnh đạo Thanh niên đầy triển vọng!” (Theo lời của Giáo sư Trần Văn Giàu).

    

Tháng 9 năm 1945, lịch sử Việt Nam lại bước vào cuộc chiến tranh mới! Phía Bắc thì quân Quốc Dân Đảng Tàu (của Tưởng Giới Thạch) so tướng Lư Hán cầm đầu, dưới danh nghĩa Đồng Minh “tước khí giới quân Nhật”, tràn ngập từ Lạng Sơn đến vĩ tuyến 16, đe dọa sự sống còn của chế độ Cộng sản non trẻ (với danh nghĩa Nhà nước Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hòa). Ở Nam bộ, ngày 23 tháng 9 năm 1945, cướp chính quyền mới được một tháng (23/8/1945 – 23/9/1945) quân Pháp đã theo gót quân Đồng Minh Anh-Ấn, tiến vào tái chiếm Saigòn. Nam Bộ Kháng Chiến bắt đầu từ 23-9-1945, đánh giặc trước cuộc Kháng Chiến Toàn Quốc (19-12-1946) đến gần một năm!

     

Sau những ngày lãnh đạo Thanh niên, Học sinh-Sinh viên Sàigòn chiến đấu một cách kiên cường trên các đường phố Sàigòn, lan ra cả Chợlớn và Gia Định…  Nhưng vì lực yếu, thế yếu, nên, Trần Bạch Đằng cũng như bao Cán Bộ lãnh đạo của các đoàn thể khác, của các ngành thuộc chính quyền Nam bộ nói chung, của Sàigòn nói riêng, đã được Đảng ra lệnh rút vào bưng biền, lập chiến khu, tiến hành Trường Kỳ Kháng Chiến! Và cuộc đời tham gia cách mạng của Trần Bạch Đằng cũng tiến nhảy vọt từ đây!

                                              

*

   

Năm 1946, Trần Bạch Đằng được Xứ ủy Cộng sản Nam bộ (do Lê Duẫn ở tù Côn đảo về, làm Bí Thư. Trần Văn Giàu đã bị gọi ra Việt Bắc) cử làm Phó Bí Thư Xứ Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ (Anh Trần Nam Hưng làm Bí thư Xứ Đoàn). Đầu năm 1947, anh Trần Nam Hưng trong một chuyến đi công tác xuống địa phương Đồng Tháp, đã bị Pháp bắn chết trong một trận đại càn quét chiến khu Đồng Tháp Mười Cuối năm 1947, Trần Bạch Đằng đã được Lê Duẫn trực tiếp chỉ định lên giữ chức Bí Thư Xứ Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc (TNCQ) Nam Bộ, đồng thời là Xứ ủy viên dự khuyết Xứ ủy Cộng sản Nam bộ (Trần Bạch Đằng vừa đúng 22 tuổi).

    

Tại sao Lê Duẫn không chọn ai khác (như Mai Thế Đồng, Phó Bí thư xứ đoàn, Võ Văn Kiệt Tỉnh ủy viên Cộng sản kiêm Bí thư Tỉnh Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc tĩnh Bặc liêu) mà chỉ chọn Trần Bạch Đằng?

    

Theo lời của ông Ung Văn Khiêm, Thường vụ Xứ ủy Cộng sản lúc ấy (1947-1954) giải thích cho một số Cán bộ cấp Nam bộ, có thắc mắc, rằng: “Đồng chí Trần Bạch Đằng, tuy trẻ tuổi, nhưng có quá trình tham gia cách mạng tử tiền khởi nghĩa. Hơn nửa, đồng chí Trần Bạch Đằng có thành tích trong công tác vận động Thanh niên, Học sinh-Sinh viên, khó có cán bộ Thanh niên cùng lứa tuổi, hoặc lớn hơn, có khả năng như đồng chí ấy! Anh Ba Duẫn đã nhìn thấy tài năng tiềm ẩn của đồng chí Trần Bạch Đằng, nên mới mạnh dạn giao nhiệm vụ lãnh đạo Thanh Niên Nam bộ cho đồng chí ấy!” (Theo tư liệu “Lịch Sử Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ” – lưu trữ tại Thư viện KHXH thành phố HCM) – (Sau 1954, ông Ung Văn Khiêm là ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, rồi Bộ trưởng Nội vụ)

 

Xứ Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ có vai trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam bộ: Động viên Thanh Niên đi tòng quân, gia nhập Vệ Quốc Đoàn, giết giặc nơi tiền tuyến. Động viên Thanh niên, Thanh nữ tham gia Dân quân Du kích, xây dựng “làng chiến đấu” ở các đia phương, để bảo vệ hậu cứ kháng chiến trên toàn Nam bộ… Nhờ vậy, Nam Bộ mới có khả năng cùng với nhân dân cả nước tiến hành Trường Kỳ Kháng Chiến đến thắng lợi (7-1954). Trong thành tích đó, công lao của Trần Bạch Đằng không nhỏ. Ông đã cùng đội ngũ Cán bộ lãnh đạo Thanh Niên Cứu Quốc toàn Nam Bộ, vận động và tổ chức Thanh niên-Thanh nữ các giới (công hân, Nông dân, Trí thức) tham gia kháng chiến chống Pháp, trên các mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị và Văn hoa-Xã hội. Có thể nói: Không có Thanh Niên Cứu Quốc cuộc kháng chiến chống Pháp sẽ không thành công!

    

Tuy còn trẻ tuổi, nhưng Trần Bạch Đằng đã được nhiều Cán bộ lãnh đạo Thanh niên ở  Xứ Đoàn, cũng như  ở các Tỉnh Đoàn, Huyên Đoàn (lớn tuổi hơn) ĐỀU KHÂM PHỤC TÀI  ĐỨC CỦA Anh! Mai Thế Đồng, 27 tuổi (lớn hơn Trần Bạch Đằng 5 tuổi) là Phó Bí Thư Thường trực Xứ Đoàn, đã có nhận xét về Trần Bạch Đằng như sau: “Đồng chí Trần Bạch Đằng tuy nhõ tuổi nhất trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo của Xứ Đoàn, nhưng đồng chí ấy có đủ tư cách hơn ai hết để giữ trọng trách Bí thư Xứ đoàn Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ! Đồng chí Trần Bạch Đằng vừa có tài nhưng không tự cao, vừa có đức nhưng không tự mãn, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của cấp dưới. Đồng chí Trần Bạch Đằng, qua kiểm nghiệm của thực tiển, đã xác nhận đồng chí ấy là con người của quảng đại quần chúng! Đồng chí Trần Bạch Đằng là điển hình gương mẫu nhất trong chúng tôi về việc thực hiện “chính sách 3 cùng“: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, trong khi đi công tác ở các địa phương”  (Tư liệu “Lịch sử TNCQ Nam Bộ”, đã dẫn)

     

(Mai Thế Đồng, tên thật là Nguyễn Văn Sung sinh quán tại làng Viên An, huyện Long Phú, tỉnh Sóc trăng. Sinh ra trong gia đình phú hào, anh cắp sách đến trường từ lúc 6 tuổi (1926) và 12 năm sau, anh thi đỗ Tú Tài toàn phần (1938). Anh chuẩn bị đi sang Pháp du học thì chiến tranh thế giới lần thứ II sắp bùng nổ (1939-1940) Năm 1941 anh được người chú là đảng viên Cộng sản kéo anh tham gia Nam Kỳ Khởi Nghĩa Sau khi Nam kỳ Khởi nghĩa bị thất bại, anh phải tị địa về Tân Trụ (Tân An). Ở Tân Trụ, anh được ông Nguyễn Văn Trấn giác ngộ, và gia nhập Đảng CSVN (1948), Mùa Thu năm 1945, anh được Đảng điều động trở về quê hương làm Đoàn trưởng Thanh niên Cứu Quốc tỉnh Sóc trăng. Khi giặc Pháp tái chiếm Sóctrăng ở Bặcliêu, anh rút vào bưng, và được Đảng cử làm Phó Bí Thư Xứ Đoàn TNCQ Nam bộ, cùng lúc với Trần Bạch Đằng. Sau 1954, anh ở lại miền Nam, làm Phó Bí thư tỉnh ủy Cộng sản bí mật tỉnh Cần thơ. Anh là một trong những cán bộ cộng sản, đã công khai tranh luận chủ nghĩa Marx với ông Nguyễn Trân tỉnh trưởng Mỹ Tho hồi 1956.)

    

Cuộc Kháng Chiến Nam Bộ có nột giai đoạn được gọi là “Quá Chỉnh Vi Linh” Đó là nhưng năm 1949-1951! Những năm này, giặc Pháp tập trung lực lượng càn quét mạnh ở chiến khu Đồng Tháp nhằm hủy diệt căn cứ đầu não của Nam bộ. Do Đó, các cơ quan Nam Bộ phải di chuyển về chiến khu IX, và U Minh Hạ được coi là “An Toàn Khu” của các cơ quan đầu não Nam Bộ. Giai đoạn này, tinh thần “cầu an sợ chết” nảy sinh khá mạnh trong hang ngũ Vệ Quốc Đoàn, trong các đơn vị đang trú đúng tiếp cận với vùng địch chiếm. Do Đó, tình trạng bỏ ngũ về địa phương, cưới vợ, đi buôn bán … Tệ hại nhất là, trong vùng giải phóng, ở địa phương nào có binh sĩ hay cán bộ đào ngũ, thì có sự tụ tập ăn nhậu, đàn ca vọng cổ thâu đêm suốt sáng… Đây chính là nỗi lo lắng lớn nhất đối với những Cán bộ Lãnh đạo cuộc Kháng chiến Nam bộ!   

   

Lúc bấy giờ, Lê Đức Thọ đang là Phó Bí Thư thường trực Xứ ủy Cộng sản Nam Bộ, đã chủ trương: “Phái Vệ binh vũ trang đi bắt Cán bộ, Binh sĩ đào ngũ về nhốt và lập tòa án binh xử án thật nặng để răn những kẻ khác; cấm nấu rượu và bán rượu, nếu ai không chấp hành sẽ bị bắt vô Trại Giáo Hóa và tịch thu toàn bộ tài sản; cấm đàn ca vọng cổ, nếu ai không tuân lệnh thì tịch thu đàn, đập bỏ, và bắt đi làm khổ sai môt đến hai năm ờ trong rừng sâu.”(Chủ trương miệng chớ không cò giấy tờ, và Lê Đức Thọ đã được dân Kháng Chiến Nam Bộ tặng cho biệt hiệu “Sáu Búa” từ đó – Theo tiêt lộ của ông Hoàng Dự Khương, chánh ủy Phân Liên Khu Miền Tây Nam Bộ vào những năm 1952-1954)

    

Có vài Cán bộ Xứ ủy đã ra mặt phản đối chủ trương cực đoan này của “Sáu Búa”, trong đó có Trân Bạch Đằng. Tại cuộc họp Xứ ủy mở rộng, vào tháng 12-1950, ở một địa điểm trong xã Khánh Lâm, huyện Trần Văn Thời, để “Kiểm Điểm Chủ Trương Dạn Vạn Phục Vụ Kháng Chiến” trong 2 năm 1+49-1950, Trần Bạch Đằng đã phát biểu, có đoạn như sau:

    

“Chúng ta chủ trương cấm nấu rượu và bán rượu, đồng thời bắt đi Trại Giáo Hóa và tịch thu tài sản, nếu ai không chấp hành chủ trương của chúng ta, thật là phạm sai lầm về chính sách Dân vận! Bởi vì, chính sách Dân vận của chúng ta là “Động viên mọi tài lực của nhân dân để phục vụ kháng chiến thành công! Những người nấu rượu và bán rượu đều có đóng thuế cho kháng chiến. Có lý nào chúng ta coi họ như tòng phạm, bắt giam ở Trại Giáo Hóa, mà còn tịch thu tài sản nữa. Rõ ràng là không có luật pháp gì hết! Hậu quả của sự sai lầm này không thể lường hết được, Cái hại trước mắt là có hàng trăm gia đình nấu rượu và bán rượu vì quá sợ hải, đã cuốn gói chạy vào sống ở cùng địch chiếm. Còn chủ trương cấm ca vọng cổ, tịch thu đàn, đập bỏ, còn bắt người đi làm khổ sai, thật là khó tưởng tượng. Chủ trương cực đoan đó, tự mình cô lập mình đối với sinh hoạt văn hóa truyền thống của nhân dân Nam Bộ, cũng có nghĩa là chúng ta đã hủy diệt một nét văn hóa truyền thống của dân gian Nam Bộ, và hậu quả là đã gây nên sự bất mãn lan rộng trong quần chúng nhân dân, hoàn toàn bất lợi cho cuộc kháng chiến chống Pháp, bởi vì quần chúng sẽ xa lánh và không ủng hộ chúng ta! Nhưng, kết quả thì chúng cũng không cấm được. Không cho ca hát ban ngày, thì họ ca hát vào ban đêm. Không cho họ ca hát trong nhà, thì họ kéo nhau ra giũa đồng nội hay vào rừng để ca hát … Đau lòng lắm! Nếu các đồng chí đi “3 cùng” với quần chúng, sẽ nghe họ lên án “Luật Rừng” đó của chúng ta!” (Theo hồ sơ “Biên Bản” các cuộc họp của Xứ ủy Nam Bộ trong thời Kháng chiến chống Pháp - tập 1949-1950,, lưu trữ tại Cục Lưu trữ Trung Uơng).

   

Vì dám nói thẳng như vậy, cho dù cách lý giải của Trần Bạch Đằng còn có kẻ hở, nhưng Lê Đức Thọ vẫn không thích! Và từ đó “Sáu Búa” đã ghìm không cho Trần Bạch Đằng trở thành Xứ ủy viên chính thức, mà xét theo tiêu chuẩn về tài lẩn đức thì Trần Bạch Đằng rất xứng đáng và đủ tư cách ngồi vào ghế Xứ ủy viên chính thứ tư 1950!

     

Trong những năm “Quá Chỉnh Vi Linh”, Trần Bạch Đằng đã chủ động đề nghị với Ban Thường Vụ Xứ úy, cho phép Xứ Đoàn phát động “Phong Trào Thanh Niên Cứu Quốc tình nguyện Vì Tổ Quốc Quên Mình, Vì Nhân Dân Hy Sinh!”    

    

Và sau khi làm lễ phát động phong trào tại ATK (An Toàn Khu), Trần Bạch Đằng và các ủy viên Xứ Đoàn (chỉ để lại một ủy viên thưòng trực cơ quan) phân công nhau, đi xuống các địa phương, trực tiếp chỉ đạo phát động phong trào tận cơ sở xã ấp. Riêng Trần Bạch Đằng trực tiếp chỉ đạo 2 tỉnh Rạch Giá và Bặc-Liêu. Đây là hai tỉnh có vùng giải phóng rộng nhất, nên cán bộ, binh sĩ đào ngũ ở các tĩnh khác như Bến Tre, Cần Thơ, Long Châu Hà, Long Châu Sa, cũng chuồn về hai tỉnh nổi tiếng “ăn nhậu đờn ca vọng cổ” này.

    

Căn cứ vào thực trạng ăn chơi của đám thanh niên “cầu an hưởng lạc” đó, Trần Bạch Đằng quyết Định thuyết phục và giác ngộ họ bằng “Phương Thức Văn Nghệ” Trần Bạch Đằng đề nghị với Huỳnh Văn Tiểng – Giám đốc Sở Thông Tin Văn hóa Nam Bộ - chỉ đạo cho can bộ văn nghệ nào có khả năng sáng tác Vọng Cổ, tập trung sang tác những bài ca vọng cổ “ca ngợi những anh hung chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam. Ca ngôi những anh hùng liệt sĩ chống Pháp. Và ca ngợi, động viên Thanh Niên đi tòng quân giết giặc cứu nước, cứu nhà. Ca ngợi những cuộc tình chung thủy: Chồng hăng hái đánh giặc ở tiền tuyến, vợ tích cực sản xuất ở hậu phương …“.  Sở Văn hóa-Thông tin chịu trách nhiệm in và phổ biến khắp trong hai tỉnh Rạch Giá và Bặc-Liêu. Đồng thời, Trần Bạch Đằng cũng đề nghị thành lập một “Đoàn Ca-Múa-Kịch” gọn nhẹ, giao cho hai nhạc sĩ Trần Kiết Tường bà Trương Bỉnh Tòng phụ trách, đi cùng Đoàn phát động phong trào do chính Trần Bạch Đằng chỉ đạo, để biểu diễn sau buổi lễ phát động phong trào, ở khắp trong hai tỉnh này.

 

Trong thời gian này Trần Bạch Đằng mới trổ tài sang tác thơ và kịch để cho Đoàn biểu diễn. Ba vở kịch lịch sử của Trần Bạch Đằng được quần chúng hoan nghênh nhất là: “Triệu Trinh Nương phất cờ khởi nghĩa.”, “Lời Thề Bất Hủ của Trần Bình Trọng” và “Người Anh Hùng Áo Vải Nguyễn Trung Trực” (Không chỉ có sáng tác Kịch cho “Đoàn Ca-Múa-Kịch” biểu diễn, mà có khi Trần Bạch Đằng còn tham gia diễn kịch. Ông đã từng đóng vai Trần Bình Trọng rất xuất sắc.) Ông Huỳnh Văn Tiểng đã nhận xét về con người văn nghệ của Trần Bạch Đằng như sau: “Anh Trần Bạch Đằng không chỉ giỏi về công tác Thanh Vận, mà anh còn có khả năng Văn Nghệ nữa! Xem những vở kịch lịch sử của anhs sáng tác, xem nột số bài thơ của anh viết, đã chứng tỏ khả năng và tâm hồn văn nghệ của anh!” ) Theo lời kể lại của nhạc sĩ Trương Bỉnh Tòng)…

    

Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1950, Đoàn phát động “Phong Trào Thanh Niên Cứu Quốc Tình Nguyện Vì Tổ Quốc Quên Mình, Vì Nhân Dân Hy sinh của Trần Bạch Đàng, đi tuyên truyền vận động Thanh niên tòng quân, kêu gọi những chiến sĩ bỏ ngũ trở về đơn vị, và tổ chức động viên “Hậu Phương Yểm Trợ Tiền Tuyền”, trong phạm vi hai tỉnh Rạch Giá và Bặc-Liêu, đã đạt kết quả rất khả quan: Hơn 200 cán bộ và chiến sĩ đang bỏ ngũ đã tự nguyện trở về đơn vị. Hơn 1000 Thanh niên tình nguyện tòng quân giết giặc cứu nước!          

    

Trong thời gian này, Trần Bạch Đàng đã chủ trương cho một số cán bộ Đoàn (Từ Xứ Đoàn đến Tỉnh Đoàn và Huyên Đoàn) chuyển sang Vệ Quốc Đoàn, bổ sung cho đội ngủ Cán Bộ Chính Trị trong quân đội. Đồng thời,Trần Bạch Đằng cũng chủ trương tuyển chọn một số cán bộ Đoàn có học vấn, còn trẻ và có sức khỏe, cho đi thụ huấn ở các trường quân sự (Quân Chính Quang Trung hay Lục Quân Trần Quốc Tuấn) để đào tạo Cán Bộ Chỉ Huy cho quân đội. Chủ trương này của Trần Bạch Đằng đã được Xứ ủy thông qua, và trở thành chủ trương chung của các cơ quan Dân-Chính-Đảng Nam Bộ, với khẩu hiệu: “Tất Cả Cho Tiền Tuyến”!

    

Lê Đức Thọ thừa dịp tổng kết “công tác từ Khi cuộc Kháng Chiến Toàn quốc bước vào giai đoạn “Chuẩn Bị Tổng Phản Công” (1952-1953) thì cuộc Kháng chiến của Nhân dân Nam bộ sẽ bước vào thế tấn công giặc Pháp ở khắp mọi nơi, Vùng giải phóng đã mở rộng đến sát căn cứ của giặc Pháp! Năm 1952, Trần Bạch Đằng đang ở tuổi 27 (1925-1952), nên không muốn ngồi trên xứ đoàn, lãnh đạo theo lối “Ông Qua Kháng Chiến” (theo lời chỉ trích của một số cán bộ đang lăn lộn ở chiến trường!”. Cho nên, anh đã trực tiếp đề nghị với Lê Duẩn

(Bí thư Xứ ủy Cộng sản Na bộ) là nên để anh Mai Thế Đồng làm Bí thư Xứ đoàn TNCQ Nam bộ, và cho anh chuyển sang làm công tác Chính Trị ở một đơn vị tác chiến! Nhưng, Lê Duẫn không chấp thuận và khuyên Trần Bạch Đằng cố làm tốt hơn nữa công tác lãng đạo Thanh Niên trong giai đoạn quyết định này!

     Giữa tháng 12-1952, Xứ ủy triệu tập cuộc hội nghị mở rộng, nhằm tổng kết công tác chuẩn bị Tổng Phản Công, đồng thời xét duyệt công tác Nhân Sự, trong đó có duyệt xét việc đưa Trần Bạch Đằng lên Xứ ủy viên chính thức. Nhưng “Sáu Buá” đã phê phán Trần Bạch

Đằng rất nặng, là “có thái độ coi thường công tác Thanh Vận, có tư tưởng đứng núi này trông núi nọ, chứng tỏ còn mang nặng tính chất Tiểu Tư sản, nên cần phải tự tu và rèn luyện nhiều hơn nữa.” (Theo Hồ sơ Biên Bản các cuộc họp của Xứ ủt Nam Bộ, đã dẫn)

Do đó, Trần Bạch Đằng vẫn chưa được thừa nhận đủ tiêu chuẩn ngồi vào ghế “Xứ ủy viên chính thức” (?!) Về vấn đề này, Trần Bạch Đằng có tâm sự với Mai Thế Đồng, người bạn-người đồng chí tin cậy nhất của anh ở Xứ Đoàn, rằng: “Lúc ông Sáu Thọ chụp mũ tôi, nói thật là tôi tức muốn ói máu, định cự thẳng với ông ta một mach, rồi ra sao thì ra, nhưng nhớ lại lời anh khuyên “chớ nên đụng thẳng với thằng cha Sáu Búa, chỉ có hại chớ không được cái giải gì hết!”, nên tôi đành nuốt sự tức giận vào trong bụng… Vì vậy mà cả ngày hôm sau, tôi không cần ăn cơm cũng thấy no.” Sau lời tâ m sự  của Trần Bạch Đằng, Mai Thế Đồng đã viêt một nét châm biếm về Lê Đức Thọ như sau: “Quả thật! Gã Sáu Búa thật đáng ghét hơn cả thằng cha Hương Quản ác ôn của làng tôi. Sáu Búa vì muốn lấy vợ nhỏ, gã mới bày vẽ ra cái chỉ thị kỳ cục rằng: “Nếu Cán bộ lãnh đạo nào mà đã xa vợ 300 ngày, nhưng không có điều kiện về quê thăm vợ, thì Đảng cho phép cưới vợ mới, để có tinh thần kháng chiến cứu nước!” Thật ra, gả Sáu Búa bày ra cái trò hề đó, chỉ là để cho gã và anh Ba D. của gã cùng nhau lấy vợ bé mơn mởn đào tơ, mặc cho hai bà vợ già ở xứ Nghệ mòn mỏi trông chờ!”      (Theo cuốn Hồi Ký “Vui Buồn Kháng Chiến” của Mai Thế Đồng, chưa xuất bản, hiện lưu trữ tại tủ sách gia đình.)  =Xem tiếp kỳ 2=

 

Số lần đọc:  631