Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Diên Nghị

 

Bình thơ;

 

Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển

 

của DU TỬ LÊ

 

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Đời lưu vong không cả một ngôi mồ

Vùi đất lạ thịt xương e khó rã

Hồn không đi, sao trở lại quê nhà

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

Bên kia biển là quê hương tôi đó

Rặng tre xưa muôn thuở vẫn xanh rì

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi

Cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối

Biết chừng đâu xác tôi chẳng đến nơi

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi

Những năm trước bao người ngon  miệng cá                                        

Thì sá gì thêm một xác cong queo

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Cho tôi về gặp lại các con tôi

Cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi

Từ những mắt buồn hơn bóng tối

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Và trên đường hãy nhớ hát quốc ca

Ôi lâu quá không còn ai hát nữa

(Bài hát giờ cũng như một hồn ma)

 

Khi tôi chết, nỗi buồn kia cũng hết

Đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

12/1978

 

**           

 

Cây cầu xa lộ vào thành phố Sài Gòn, thủ đô miền Nam qua một đêm, bỗng trở thành đường vào đất Thục (Thục đạo nan). Sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc chiến giằng co bên này chân cầu bến cảng, lực lượng đồn trú chống tăng, ngăn chặn xe bọc thép của địch tiến tới. Cây cầu nhạt hẳn vẻ thân thương hiền hòa mọi ngày... lòng cầu rộng mở, xe cộ qua lại thành phôá  tấp nập, bình yên, phía dưới, dòng sông êm ả, thuyền bè lui tới theo luồng nước khi hạ, khi dâng.

 

Tiếng súng đì đạch, đứt quãng. Cây cầu nằm chịu sức ép hồi hộp, đợi chờ... cho đến khi thông điệp đầu hàng ban bố qua hệ thống truyền thanh.

Sài Gòn hỗn độn, quần chúng hoang mang giao động, bất ngờ. Người qua, xe cộ chạy quanh, hốt hãi. Nón sắt, giày sô, áo trận, vũ khí vất vưởng bên những lề đường...

 

Biến động lịch sử bùng vỡ niềm tin, vung vãi bao la trời đất, Du Tử Lê, từ nhiệm sở Cục Tâm Lý Chiến, tọa lạc gần cầu Thị Nghè, đối diện Sở Thú, vội vã chạy về nhà, nhưng đã muộn! Cầu Sài Gòn cắt đứt ngả về! Tình gia đình máu thịt rát bỏng, bồn chồn. Không qua được cầu, cũng không còn thấy bóng con đò nào hiện hữu vào lúc thời gian rũ xuống, lặng lẽ, tuyệt vọng. Trông vời bên kia bờ, Làng Báo Chí thân yêu xa vời vợi. Tiếng súng vẫn lác đác rời rạc, người tiếp người nháo nhác, thất thần. Giữa thời điểm cần một quyết định, không bình chân, chậm bước, phó thác rủi may, tất tả theo đám đông đi tới.

 

Bên kia chân cầu – bạn lẫn thù, xác nằm ngổn ngang, người Nam kẻ Bắc, nón tai bèo cạnh nón sắt Cộng hòa.

 

Sau mười năm trong vòng kẽm gai địa ngục cải tạo trên đất Bắc, tôi trở về Làng Báo Chí, người cũ  - kẻ còn người mất, kẻ ở lại, có người đã ra đi. Kể từ ngày hôm ấy, thỉnh thoảng được nghe kể chuyện mười năm trước: “Ngoài xa lộ, chỉ cách Làng Báo Chí một ngàn mét theo đường chim bay, trên những xác mặc áo trận Cộng hòa, người ta nhặt được tấm thẻ báo chí bọc nhựa mang tên Du Tử Lê...”

 

Câu chuyện dân làng thường nhắc gợi, chấm phá thành huyền thoại chiến chinh, trong khi Du Tử Lê đã may mắn đặt chân lên bờ đất hứa. Những giai thoại nghe đến rơi lệ “giữa lúc non sông mờ cát bụi” (Thế Lữ), cũng khơi nguồn thành những trang viết một giai đoạn đổi đời sâu đậm giữa lịch sử nghiệt ngã. Những người vượt thoát, an ổn, có đi và đã đến, nhưng biết bao người yểu mệnh, vắn số đã gửi tấm thân xuống đại dương trùng trùng sóng nước!

 

Ba năm hít thở không khí tự do, được Thượng đế ân sủng, chắp cánh vươn lên, hội nhập hài hòa xã hội mới, Du tử Lê chưa hề nguôi ngoai, bức xúc về gia đình và niềm tiếc hận trách nhiệm đè nặng đôi vai người chủ gia đình, và niềm tiếc hận của người lính nửa chừng gãy súng!

 

Đời sống thực tại vây bọc vướng bận những khái niệm và triết lý thân phận làm người, Du Tử Lê sớm ưu tư phút cuối cùng của bản thể – nỗi cô đơn cùng cực, giật mình suy tưởng kiếp lưu vong:

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Đời lưu vong không cả một ngôi mồ

 

Khái niệm chết vốn hằng cửu, hiển nhiên. Chết là hết. Con người bị khuân đi khỏi cõi sống, thân xác dần rã tan trộn hòa lòng đất. Cát bụi trả về cát bụi! Khi sống, con người có một mái nhà và khi chết hẳn cần một nấm mồ. Cuộc lưu vong đơn độc, nẩy mầm bất an, từ đó ngày mai, ngày mốt, vị lai bập bềnh chìm nổi hoài nghi, bi lụy. Nhưng còn phần hồn – Du Tử Lê xác quyết linh hồn còn ở lại trần thế – ở lại không nơi chốn xa lạ xứ người, mà hồn linh vẫn bám trụ quê hương, đất mẹ:

 

Vùi đất lạ thịt xương e khó rã

Hồn không đi, sao trở lại quê nhà

 

Triết lý linh hồn mở ra hình tượng quê hương ban đầu của con người sinh ra và lớn lên – con người hình thành từ cái không (không gì cả) đến có (hài nhi – con người) rồi cuối cùng trở về với không (mãn phần). Nơi đó, chế ngự linh hồn con người, ràng buộc, gắn bó không rời. Du Tử Lê tin tưởng linh hồn không đi, mãi mãi ở đó, nên (không đi thì sao là hồn trở lại...). Nơi đó, mái nhà thân thuộc, làng thôn bao bọc lũy tre xanh đời đời, yếu ớt, gầy guộc mà màu xanh với sức mạnh che chở, chia sẻ, chứng kiến vui buồn với số kiếp con người lam lũ, lao động chân tay trong xã hội nông nghiệp thô sơ, đổ mồ hôi, mòn cơ bắp để tồn tại.

 

Khi tôi chết, ngọn gió, làn sóng biển sẽ đẩy xác đi, bên kia là quê hương tôi đó – sông núi đẹp như gấm như hoa, màu diệp lục thảo mộc đan quyện màu lũy tre rậm rì vẫn nguyên hình thẳng đứng:

 

Bên kia biển là quê hương tôi đó

Rặng tre xưa muôn thuở vẫn xanh rì

 

Ý thức về nguồn không thuần dành cho con người nặng khổ đau hoàn cảnh tị nạn, để nương tựa, và được an ủi, giải tỏa. Nguồn cội không thể tách rời với con người – Quả có có tách rời do không gian vật lý thì thời gian tâm lý là sợi dây kết nối, ràng buộc của nhớ của thương. Con người hằng dựng một giấc mơ về trong trạng thái tại thế, giấc mơ ấy còn ghi khắc lời trăn trối – yêu cầu khẩn thiết khi đến phút lâm chung... tha thiết được hướng về quê hương, xin đừng vội vàng vuốt mắt biệt từ:

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi

Cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối

Biết chừng đâu xác tôi chẳng đến nơi

 

Khẩn khoản xin người thân, bằng hữu đừng ái ngại điều chi, đừng do dự bởi gì – Mong ước được trở về vẫn chỉ là dự ước! Biết rằng vòng tay quê hương luôn bao dung rộng mở, sẵn sàng đón nhận người con lưu lạc, nhưng rào chắn bạo lực bạo quyền vẫn còn đó, nguyên hình. Hãy bình tĩnh thỏa mãn lời cầu xin như một ân huệ của người nằm xuống. Quá khứ tang thương, tàn nhẫn đã chôn vùi biết bao sinh mệnh, quyết tâm đi tìm lẽ sống trong nỗi chết giữa đại dương mênh mông, thì nay sá gì thân xác bé mọn, cong queo, làm miếng mồi cho cá!

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi

Những năm trước bao người ngon miệng cá

Thì sá gì thêm một xác cong queo

 

Cuốn phim bi đát tháng Tư xưa khó phai nhòa tâm trí người trong cuộc, thi thoảng chợt hiện như thách đố, như trách chê, hờn oán. Cây cầu Sài Gòn đã chịu phù phép thôi miên của ác quỷ vô thần xông tới, đã biến hy vọng thành thất vọng, tình cảm rẽ chia, cách trở cũng từ phút đó! Năm tháng hờ hững, lạnh nhạt trôi theo con nước dưới cầu. Xa quê hương làng thôn thân thuộc, hình ảnh ruột thịt bất an giữa một xã hội mới, chẳng khác một trại tù vĩ đại. Không tin tức, vân mòng! Khổ lụy chồng chất lên đôi vai người vợ chân yếu tay mềm. Dòng nước mắt âm thầm trong ánh mắt thơ ngây của những người con, đã sớm cảm nhận tan tác, chia lìa giữa canh khuya vắng vẻ. Một cuộc đoàn viên mừng tủi họa hoằn trải qua giấc mộng từng đêm. Nhìn tới, nhìn lui, thiếu vắng người cha, cột trụ chống đỡ cuộc sống gia đình... trông chờ đến võ vàng, héo hắt!

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Cho tôi về gặp lại các con tôi

Cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi

Từ những mắt buồn hơn bóng tối

 

Cuộc sống con người chính là hoài vọng, thiếu hoài vọng, đi về của con người sẽ bế tắc, không tìm ra lối thoát. Còn khoảnh khắc nào giữa hiện thế, con người vẫn hoài vọng những gì chưa đạt tới. Nhận thức sâu đầy về ý nghĩa cuộc đời, là kéo giăng sợi dây thời gian dài thêm, kịp gửi gắm lời cậy nhờ, trăn trối.

 

Là người lính trên chiến tuyến ý thức hệ tư do, đối mặt ý thức hệ Mac-xit, ngưới lính không chỉ chiến đấu bằng vũ trang mà bằng tinh thần yêu quê hương, tổ quốc, nơi ngọn núi, dòng sông mà người lính đã có lần vượt qua, nơi đồi cỏ, đường quê, người lính bao lần bám trụ. Tình yêu ấy vang vọng suốt cuộc đời quân ngũ, và lời ca, điệu hát xúc tác mãnh liệt ý chí tự nguyện xông lên phía trước.

Bài Quốc ca – Du tử Lê xót thương, nuối tiếc. Tất cả của một bản thể, rồi ra sẽ là phù vân, và bài hát biểu tượng thiêng liêng cũng chung số phận! Xin được nghe thêm một lần:

 

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Và trên đường hãy nhớ hát quốc ca

Ôi lâu quá không còn ai hát nữa

(Bài hát giờ cũng như một hồn ma)

 

Cảm thức cái chết vắng lạnh, đơn độc, nên trước mắt không gian vướng vất những gam màu trầm buồn, thê thiết của biến đổi, tuyệt vọng, đồng nghĩa như cái chết:

 

Khi tôi chết, nỗi buồn kia cũng hết

 

Cái chết, nội tại là nỗi bi dát, hủy diệt, và là tiếng chuông báo tử của thời gian:

 

Đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

 

Đời lưu vong trú ẩn trong thời gian bi lụy ấy, lại có khi thân phận chính nó. Bài thơ sáu điệp khúc trầm tư “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển” – lời cầu xin, trăn trối của một kẻ lưu vong chẳng thể đừng, chẳng thể chối từ, cũng chẳng còn chọn lựa, giọng điệu bi thiết, u uẩn nhưng âm hưởng hòa tan vào tha nhân, đồng điệu, như một lời kinh chiêu niệm.

 

Tác giả từng minh họa những ước mơ, vốn là mơ ước thành tựu trong cõi thực – dù chỉ một sát na mỏng manh huyền nhiệm nào đó, rồi vẫn trả lại cho mơ... Biết không thể nào thoát vượt được thế giới bất tận bên kia ngọn núi đang chờ đón, con người chuẩn bị cho phút ra đi, có thể bất ngờ, bất định. Du Tử Lê đã thấy, đã cảm, cùng lưu luyến, thương yêu cuộc đời, và xót đau cho những phi lý, dở dang, ngắn ngủi của con người.

 

Nếu cuộc đời là hành trình của hoài vọng và mưu cầu hạnh phúc, thì hoài vọng chẳng bao giờ tròn đầy, và hạnh phúc cũng chẳng bao giờ toàn vẹn. Cuối cùng, con người nhắm đến một nơi về – lòng đất – Phải là lòng đất quê hương.                                   

 

= Diên Nghị, 7/2007

 

 

Số lần đọc:  263