Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Lê Tùng Minh

 

TRẦN BẠCH ĐẰNG (II)

Người Đề Xuát Sáng Kiến Thành Lập Lực Lượng Vũ Trang Giải Phóng Miền Nam Việt Nam!”

 

Không được trực tiếp làm Cán bộ Chính trị ở tiền tuyến, Trần Bạch Đằng trực tiếp chỉ đạo Cán bộ Xứ Đoàn, Tỉnh Đoàn thực hiện chủ trương “Tích Cực Tham Gia Chuẩn Bị Tổng Phan Công”, bằng hành động thực tế là tiến hành ngay cuộc vận động, tổ chức “Phong Trào Thanh Niên Cứu Quốc hăng hái gia nhập các “Đội Tuyên Truyền Xung Phong”, ngay trong vùng địch chiếm, kêu gọi các giới: Học sinh-sinh viên bãi khóa; Công nhân-viên chức bãi cộng; Thương gia-Tiểu thương bãi thị, góp sức chuẩn bị cho cuộc Tổng Phản Công thắng lợi hoàn toàn! Và chỉ trong vòng  một năm (1953), dưới sự trực tiếp của Trần Bạch Đằng, hầu hết cácTỉnh Đoàn TNCQ thuộc Nam Bộ đều tổ chức được “Đội Tuyên Truyên Xung Phong” (TTXP). Riêng Xứ Đoàn đã thành lập được một “Tiểu đoàn Thanh niên Xung kích”. (TNXK). Các Đội viên của tiểu đoàn TNXK, phần đông được tuyển chọn từ những Thanh niên tiên tiến ở các địa phương thuộc Phân Liên Khu Miền Tây Nam Bộ. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn TNXK là: “Đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì, khi cuộc kháng chiến cần! Không từ nan bất cứ nhiệm vụ nào của Nhân dân, Đoàn và Đảng giao phó! Hoàn thành xuất mọi công tác Chuẩn bị Tổng Phản Công cho đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp của Nhân dân ta thắng lợi hoàn toàn!” (Theo tư liệu Lịch Sử TNCQ, Nam Bộ đã dẫn)

 

Nhiệm vụ này do Trần Bạch Đăng viết và trình lên cho Thường vụ Xứ ủy duyệt, đã bị Lê Đức Thọ vạch lá tìm sâu rằng: “Đồng chí Trần Bạch Đằng có ý gì mà để Đảng sau Đoàn và Nhân dân? Phải sửa lại là “Không từ nan bất cứ nhiệm vụ nào của Đảng, Đoàn và Nhân dân giao phó!” (Theo Hồ Ký của Mai Thế Động, đã dẫn).

    

Trong cuộc họp của Ban Thường vụ Xứ Đoàn TNCQ Nam bộ (1-1953), Mai Thế Đồng cắc cớ hỏi Trần Bạch Đằng rằng: “Anh đã gặp sao “Địa Kiếp” chiếu Mệnh hay sao mà Sáu Búa không “Búa” ai, cứ đè anh ra để “Búa” vậy?” Trần Ngọc Sơn, nguyên Phó Bí thư Tỉnh Đoàn TNCQ Tỉnh Bạcliêu, mới được điều lên Xứ Đoàn và bổ sung vào Thường vụ, đặc trách công tác Thiếu Nhi Cứu Quốc Nam bộ, cười nói tếu rằng: “Lúc còn ở Tỉnh Đoàn, khi tham gia sinh hoạt Thiếu Nhi, có em hỏi: Nghe đồn có ông Sáu Búa đi vô rừng gặp Cọp, ổng nhướng mắt lên, Cọp sợ đến té đái .. Có phải không?” Trần Vạch Đằng đưa nắm tay lên, làm động tác giả vờ đấm vào mặt Trần Ngọc Sơn, hạ giọng nói: “Coi chừng ổng xé xác em đó nghe em thiếu nhi!” (theo Hồi Ký của Mai Thế Đồng, đã dẫn)

 

Sau tháng 7 năm 1954,  Trần ạch Đằng, Mai Thế Đồng, Trần Ngọc Sơn, đều tình nguyện ở lại Nam Nộ, để cùng đồng bào đấu tranh buộc đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Nghi Genève, nhằm đạt được Hòa Bình Thống Nhất vào tháng 7-1956 (?) Xứ ủy Cộng sản Nam Bộ đã chấp thuận, và bố trí công tác bí mật cho Trần Bạch Đằng làm Thành ủy viên Thành ủy bí mật Sàigòn, đặc trách Ban Trí Vận (bao gồm Học sinh-Sinh viên). Mai Thế Đồng làm Thường vụ Tỉnh ủy bí mật Cầnthơ. Trần Ngọc Sơn làm Thường vụ Tỉnh ủy bí mật Rạch Giá –

 

Theo tài liệu “Tối Mật” của của Xứ ủy Cộng sản Nam Bộ: Sau tháng 7- 1954, đã có gần 60.000 đảng viên cài lại trên toàn Nam Bộ, để hoạt động bí mật, chuẩn bị lực lượng, chờ đọi thời cơ “giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam, Thông Nhất nước nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN!”)

     

Thật ra, Trần Bạch Đằng và các cán bộ ở lại miền Nam sau tháng 7-1954, đã biết rất rõ rằngl “Không có chuyện tập kết ra Bắc chỉ 2 năm là đã Hòa Bình Thống Nhất! Đó chỉ là cách nói để ổn định tinh thần cán bộ và chiến sĩ miền Nam an tâm đi tập kết ra miền Bắc mà thôi!”. “Trần Bạch Đằng và chúng tôi – Mai Thế Đồng và Trần Ngọc Sơn, đã xác định ngay từ khi quyết định ở lại Miền Nam: Đây là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ trăm bề!” (Theo Hồi Ký của Mai Thế Đồng, đã dẫn) 

                                        

                                    *

  

Sau cuộc Hội nghị thành lập Xứ ủy Cộng sản bí mật tại U Minh Hạ vào tháng 10-1954, thì tháng 11-1954, Trần Bạch Đằng cải trang, đóng vai “phóng viên” báo “Đuốc Nhà Nam” của ông Trần Tấn Quốc, đi xe đò từ Cà Mau về Sàigòn. Tại Sàigon. Ông không ở một nơi nào nhất định. Nhưng có 3 điểm mà ông thường lui tới là: 1/- Ngôi biệt thự của một luật sư nổi tiếng ở Sàigòn lúc ấy, tọa lạc trên đường Phan Thanh Giản (trước 1975). 2/- Ngôi biệt thự của một Giáo sư nổi tiếng ở Sàigòn vào thời đó, tọa lạc trên đường Nguyễn Trải (trước 1975) 3/- Ngôi biệt thự của một Đại Thương Gia người Hoa Klều ở Chợ Lớn, tọa lạc trên đường Trần Hưng Đạo (trước 1975). Từ nay, Trần Bạch Đằng giao dịch với mọi người với cái tên Tư Ánh. Về đến Sàigòn không được bao lâu, Trần Bạch Đằng đã bắt tay vào việc bí mật chỉ đạo “Phong Trào Đấu Tranh Bảo Vệ Hòa Bình, Đòi Hiệp Thương Tổng Tuyển Cử, !” (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là người ra mặt, công khai lãnh đạo phong trào này).

 

Đầu năm 1955, phong trào phát  triển rất mạnh: Hàng trăm “Ủy Ban Đấu Tranh Vì Hòa Bình “đã được thành lập, tiêu biểu là “Phong Trào Hòa Bình Sàigòn-Chợlớn”. Tuy nhiên, đấu tranh chỉ bằng tay không và lời hô hào, làm sao đương đầu lâu dài với súng đạn và xe tăng thiết giáp (!) Chính quyền Ngô Đình Diệm đã bóp chết phong trào Hòa Bình từ đầu năm 1956, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và những trí thức tham gia phong trào đều bị bắt! Sở Mật Vụ của Bác Sĩ Trần Kim Tuyến đã phát hiện: Một nhân vật tên Tư Ánh là người bí mật chỉ đạo phong trào nội loạn ngay giữa Sàigòn, nhưng chưa bắt được!” Do đó, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến đã cho Hải Con -Trưởng Phòng An ninh Đặc biệt “phải truy lùng cho ra tên Tư Ánh!”

     Từ giữa năm 1956, Trần Bạch Đằng phải bôn tẩu khắp nơi trong thành phố Sàigòn-Chợlớn, và luôn luôn thay hình đổi dạng, để qua mặt đám an ninh, chỉ điểm! Trong Thành ủy bí mật có người khuyên Trần Bạch Đằng tạm rút khỏi Sàigòn một thời gian. Nhưng, Trần Bạch Đằng nói:“Nếu rút lui rời bỏ Sàigòn trong lúc khó khăn nhất, tức là dao động chạy trốn, cũng đồng nghĩa với chịu thua! Cho dù khó khăn cách mấy, tôi vẫn kiên quyết bám trụ đến cùng!” (Theo Giáo sư Dương Văn Thới, thân phụ của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, là một trong những nơi đã chứa chấp Trần Bạch Đằng trong những năm 1955-1960)                   

    

Từ thực tiễn của cuộc đấu tranh chính trị đơn thuần, Trần Bạch Đằng chính mắt thấy bao nhiêu người bị giết, bao nhiêu người vào tù (!?) Thời gian này ở Nam Bộ chỉ còn có 5.000 đảng viên (bị giết chết hết 55.000 đảng viên). Vì vậy, Trần Bạch Đng đã mạnh dạn đề xuất lên Xứ ủy rằng: “Trung ương ở xa nên không thực tế, cứ chủ trương đấu tranh chính trị đơn thuần thì sẽ có bao nhiêu người phải chết nữa? Tôi đề nghị phải tiến hành vũ trang cho các đội tuyên truyền và vũ trang cho các đội tự vệ.”

      

Đề nghị này của Trần Bạch Đằngđã được Xứ ủy Nam Bộ chấp nhận! Cho nên, cuộc Hội Nghị Xứ ủy Nam Bộ vào tháng 12-1956, đã quyết định “tiến hành tuyên truyền vũ trang và tự vệ vũ trang, để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Và đến một thời cơ nào đó sẽ

biến nó thành lực lượng vũ trang của cách mạng Giải phóng Miền Nam Việt  Nam!” Rõ ràng Trần Bạch Dằng đã có công đóng góp cho chủ trương lớn này của Xứ ủy Cộng sản Nam bộ!

 

Thế nhưng, ông lại bị Trường Chinh, đương kim Tổng Bí Thư Đảng lúc ấy, phê bình là quá khích (?) (Theo lời kể của Trung tướng Trần Hải Phụng, nguyên Tư Lệnh Quân Giải Phóng Đặc khu Sàigòn-Giađịnh-Chợlớn)

 

Tuy nhiên, thực tiễn bao giờ cũng thắng giáo điều! Tháng 10-1957, tại Chiến khu Đ. Căn cứ chủ yếu của Xứ ủy Cộng sản Nam bộ, Đại Đội 250, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của cái gọi là “Giải Phóng Quân Miền Nam” đã được thành lập. Mầm họa đối với Chính phủ Ngô Đình Diệm bắt đầu từ đó. Đến cuối năm 1957, Cộng sản Nam Bộ đã có 37 Đại Đội vũ trang. Từ đầu năm 1958, Cộng sẳn Nam Bộ đã thật sự phát động đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và Binh vận (tức là chiến thuật “Ba Mũi Giáp Công”).

    

Nhưng, Lê Duẩn – Bí thư Xứ ủy Nam Bộ có cái nhìn khác hơn Trường Chinh. Là người trực tiếp sống trong chiến trường, nên Lê Duẫn rất coi trọng ý kiến về sự “kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị”. Chính Lê Duẫn đã đưa đề xuất vào trong “Báo Cáo tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới ở miền Nam”, đem ra Bắc, đọc tại Hội Nghị Trung ương lần thứ 15, họp tại Hànội (1-1959). Nhờ báo cáo đó, mà ông Hồ Chí Minh kêu Lê Duẫn ở lại Hànội, để chuẩn bị Báo Cáo Chính Trị cho Đại Hội Đại Biểu Đảng Toàn Quốc lần thứ III (9-1960). Trong Đại Hội III, Lê Duẫn được bầu làm Tổng Bí thư, nên đã trụ luôn ở Hànội! Nhưng, Lê Duẫn chắc không bao giờ quên công của Tư Ánh đã cứu ông thoát khỏi cuộc vây bắt của Cảnh Sát Quốc Gia, tại đường Colonel Lizé (Phan Thanh Giản) Sàgòn (?)

    

[Nguyên là: Trước khi ra Hànội dự Hội Nghị Trung ương lần thứ 15, Lê Duẩn ra kệnh cho Thành ủy Sàigỏn bố trí cho ông ta bí mật vào trong nội thành Sàigòn để gặp một số trí thức, nhân sĩ thuộc “Lực Lượng Thứ Ba”, trao đổi về việc thành lập một “Mặt Trận Dân Tộc chống Mỹ-Diệm”. Thành ủy Sàigòn giao nhiệm vụ Khó khăn, nguy hiểm đó cho Tư Ánh! Tư Ánh cho người đón Lê Duẫn từ mật khu về Sàigòn vào lúc thành phố đã lên đèn. Chính Tư Ánh đón và đưa anh Ba Nam (tức Lê Duẫn) đến ngụ tại nhà vị luật sư, tọa lạc trên đường Colonel Lizé. Theo thông báo lần đầu thì anh Ba Nam chỉ vào Sàigòn có 3 ngày. Nhưng, hết ngày thứ ba, thì anh Ba Nam cho biết là ở thêm 2 ngày nữa, để gặp vài vị trí thức nữa … Tư Ánh đành phải chìu theo ý của anh Ba Nam. Nhưng, Tư Ánh rất lo, vì nhập thành theo phương thức bí mật, mà không giữ nguyên tắc như vậy, là phá vỡ kế hoạch báo vệ đã bố trí trước (!)

    

Điều bất ngờ đối vơi Tư Ánh, là cô giao liên đưa anh Ba Nam vô Sài gòn vào ba hôm trước, đến ngày thứ tư lại được Thành ủy giao nhiệm vụ vào thành để đón anh Ba Nam, như anh Ba Nam đã hẹn. Và rủi thay, khi cô giao liên vừa bước xuống xe thì bị “Cảnh sát áo trắng” (tức cảnh sát đặc biệt) của Nha Đô Thành bắt vì tình nghi. Cô gái giao liên 19 tuổi đã bị tra tấn rất dã man, nhưng ngày đầu cô mộ mực kêu oan! Qua ngày hôm sau, cô ả đinh ninh anh Ba Nam đã về tới mật khu rồi, nên chịu khai để khỏi bị tra tấn tiếp! Thế là vào khoảng 7 giờ tối ngày hôm đó (tức ngày cuối cùng của Ban Nam ở Sàigòn), Nha Cảnh sát Đô thành đưa một đại đội Cảnh sát Dã chiến đến bao vây ngôi biệt thự của vị luật sư ở đường Colonel Lizé, để bắt Ba Nam! Trong khi đó, gia đình vị luật sư đang chuẩn bị tiệc chiêu đãi Ba Nam và Tư Ánh.

     Khi nghe viên Đại úy chỉ huy Cảnh sát dã chiến phát loa rằng: “Những người trong nhà nghe đây: Chúng tôi được lệnh xét nhà! Vì vậy “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, ở đâu ngồi yên chỗ đó. Không ai được đi tới đi lui, nếu không tuân lệnh, chúng tôi coi như các người cố tình cản trở công vụ!”, anh Ba Nam hơi tái mặt, ngó Tư Ánh, ngầm hỏi: “Bây giờ phải tính sao?” Tư Ánh bình tĩnh hỏi vị luật sư chủ nhà rằng: “Ông có sẵn 1.000 Mỹ kim không? Vị luật sư gật đầu! Tư Anh bèn kề tai nói nhỏ, chỉ cho với vị luật sư nghe thôi (?) Sau đó, Tư Ánh kéo Ba Nam lên lầu, rồi nói: “Anh phải cải trang thành ông già ngay, để khi ông chủ nhà nói chuyện với viên chỉ huy cảnh sát xong, thì tôi sẽ đưa anh đi khỏi nhà này tức khắc! Trong khi đó vị luật sư ra mặt nói với viên Đại úy chỉ huy Cảnh sát rằng: “Tôi có quyền không mở cửa cho các ông vào, cho đến khi có mặt của ông Biện lý Tòa Thượng Thẩm, vì tôi là luật sư của Tòa đó! Nhưng, nể ông chấp hành công vụ, tôi chỉ cho phép ông vào, đưa cho tôi xem lệnh xét nhà, nếu thấy hợp lý thì tôi sẽ cho ông xét!” Viên Đại úy cảnh sát đồng ý làm theo lời của vị luật sư. Vị luật sư chủ nhà ra lệnh cho người cận vệ, chỉ mở hé cánh cổng sắt, cho một mình viên Đại úy vào, rồi khóa lại ngay! Vị luật mời viên Đại úy vào phòng khách và bảo viên Đại uy đưa lệnh xét nhà cho ông xem. Nhưng, ông chỉ xem lướt qua, rồi bảo viên Đại úy rằng: “Ông Đại úy! Bây giờ tôi cho ông lựa chọn một trong hai điều kiện: Một, ông chịu khó chờ tới ngày nào có lệnh của Ngài Biện Lý của Tòa Thượng Thẩm thì hãy trở lại xét nhà tôi! Hai, ông nhận 1.000 Mỹ kim và rút quân đi khỏi đây trong vòng một tiếng đồng hồ, rồi trở lại, tôi sẽ cho ông xét nhà!”. Viên Đại úy cảnh sát suy nghĩ chừng 5 phút, rồi nhận điều kiện thứ hai….

     Đại đội Cảnh sát Dã chiến vừa rút đi khuất dạng, thì vị luật sư cho tài xế lái chiếc Traction đời mới đưa ông và hai vị khách trị giá 1.000 Mỹ kim” ra khỏi nhà, chạy về hướng Củ Chi… Nửa giờ sau chiếc Tracyion quay về, trên xe chỉ có tài xế và vị luật sư khả kinh! (Theo lời kể của Trung tướng Trần Hải Phụng)]                       

       

     Trong những năm 1957-1959, Trần Bạch Đằng vẫn bám trụ ở Sàigòn-Chợlớn-GiaĐịnh để trực tiếp chỉ đạo “Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị của Trí Thức và Học sinh-Sinh viên”, nhằm chống cái mà Cộng sản gọi là “chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm” và “chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ”! Đồng thời, gây sự náo loạn ngay trung tâm đầu não của nền Đệ I Việt Nam Cộng Hòa, để hỗ trợ cho “Phong Trào Đồng Khởi” mà bắt đầu là cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre, do Nguyễn Thị Định lãnh đạo (17-1-1960). Qua phong trào này, Trần Bạch Đằng đã tổ chức được một lực lượng Học Sinh-Sinh viên yêu nước ngay tại thành phố Sàigòn - Chợlớn,khả dĩ có thể huy động hang chục ngàn Học sinh-Sinh viên của Sàigòn-Giađịnh-Chợlớn, bãi khóa, biểu tình, lôi kéo theo thợ thuyền bãi công, tiểu thương bãi thị … có thể kéo dài trong vòng 3 ngày đến một tuần lễ, làm ngưng mọi sinh hoạt của thành phố. (Nhiều Cán bộ trưởng thành trong Phong Trào Học Sinh Sinh viên Sàigòn do Trần Bạch Đằng chỉ đạo, như Nguyễn Văn Vịnh, Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Hồ Hữu Nhật, Lê Hiếu Đằng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết v.v …)

    

Chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm diễn ra rất quyết liệt trong những năm 1956-1958, đã tiêu diệt đến 9/10 số cán bộ, đảng viên của Xứ ủy Cộng sản Nam bộ! Nhưng, cũng vì thế mà thúc đẩy Xứ ủy Cộng sản Nam bộ quyết tâm đấu tranh vũ trang, theo Quy Luật Đấu Tranh Sinh Tồn, nghĩa là: “Có áp bức thì có đấu tranh! Áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng mạnh!” Đến khi Luật 10-59 “đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” của Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành, máy chém. Lê khắp nơi, thì Trần Bạch Đằng cũng không thể trụ yên tại Sàigòn! Sở Mật Vụ của Bác sĩ Trần Kim Tuyến Đã bị ông Cố vấn Ngô Đình Nhu quở trách nặng nề rằng: “Chỉ có một tên Tư Ánh mà không bắt được, cứ để hắn nhởn nhơ ở Sàigòn thật là không ra gì!” (Theo tiết lộ của Hải Con - tức Võ Văn Hải, đã dẫn).

 

Vì vậy, từ cuối năm 1959, Trần Bạch Đằng bị Sở Mật Vụ truy lùng ráo riết, kèm theo giải thưởng 3.000.000 động nếu ai bắt được Tư Ánh! Cho nên Tư Ánh một ngày cải dạng mấy lần, mỗi đêm phải thay đổi chỗ ngủ! Có lúc, Trần Bạch Đằng phải trốn ra Vũng Tàu, chuồn lên Đà Lạt … Vậy mà Trần Bạch Đằng cũng cố luồn lách trở về Sàifòn chỉ đạo hàng vạn Học sinh-Sinh viên phối hợp với các giới quần chúng lao động, thợ thuyền, buôn bán nhỏ, xuống đường, biểu tình rầm rộ khắp Sàigòn - Giađịnh - Chợlớn, suốt ngày 20-7-1960, chống “chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm!”, chống “Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam!”

 

Tháng 9 năm 1960, Xứ ủy Cộng sản Nam bộ (do Mười Cúc-tức Nguyễn Văn Linh, làm Bí thư) rút Tư Ánh vào mật khu để chuẩn bị thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN). Ngày 20 tháng 12 năm 1960, MT/DTGP/MNVN ra đời, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ là Chủ Tịch. Trần Bạch Đằng được cử làm Ủy viên Chủ tịch đoàn, đặc tránh Tuyên Huấn. 

    

Khi Đại Hội Đại biểu Đảng Toàn quốc lần thứ III (từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960) mộ số cán bộ Đảng Nam bộ, thấy thành tích công tác của Tư Ánh như vậy, đều nghĩ rằng: Trần Bạch Đằng phải được vào Trung ương hay ít ra là ủy viên Trung ương dự khuyết? Nhưng, kết quả thì chỉ có 5 người sau đây là ủy viên trung ương chính thức: Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng, Võ Toàn, Phạm Văn Xô và Nguyễn Chánh. Còn 3 ủy viên trung ương dự khuyết là Võ Văn Kiệt, Phạm Thái Bường và Lê Toàn Thư. Danh sách các ủy viên này, vì điều kiện công tác bí mật, nên không công bố công khai! (Theo Lịch sử Đảng CSVN, tập 2 (1954-1975), Nhà XB CTQG, Hànội1995,trang 143)

     

Tại sao Trần Bạch Đằng không được giới thiệu vào Trung ương Đảng khóa III? Tại vì Nguyễn Văn Linh báo cáo rằng: “Đồng chí Trần Bạch Đằng tuy lập được nhiều thành tích xây dựng phong trào Trí thức, Học sinh-Sinh viên ở Sàigòn-Giađịnh-Chợlớn, và bản thân đồng chí ấy cũng rất dũng cảm, Không sợ nguy hiểm, bám sát phong trào! Tuy nhiên, đồng chí Trần Bạch Đằng đã phạm một sai lầm nghiêm trọng là coi nặng trí thức và Học sinh-Sinh viên, mà coi nhẹ giai cấp công nhân, và lao động thành thị!” Lê Đức Thọ lại phán thêm rằng: “Như vậy là có tư tường hữu khuynh, mất lập trường giai cấp làm sao giới thiệu vào Trung ương được!” (Theo tiết lộ của Phan Triêm, Phó Ban Tổ Chức Trung ương Đảng)

    

Hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa 3, vào ngày 23-1-1961 đã quyết định thành lập Trung ương Cục Miền Nam. Và theo tinh thần của quyết định đó thì Trung ương Cục miền Nam (TWCMN) là một bộ phận của Ban Chấp Hành trung ương Đảng, làm nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo cách mang miền Nam, chủ yếu là Nam bộ…”. “ Nguyễn Văn Linh được chỉ định làm Bì thư TWCMN, và 7 ủy viên là Trần Lương, Phan Văn Đáng, Phạm Văn Xô, Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt, Phạm Thái Bường và Trần Văn Quang.” (Theo LSĐCSVN, tập 2, đã dẫn,

trang 163).

    

Nhiều đồng chí, bằng hữu đã từng vào sinh ra tử với Trần Bạch Đằng, đã biết khả năng công tác vận động, tổ chức và tài lãnh đạo quần chúng làm cách mạng của Tư Ánh, đều thắc mắc:”Tại sao Trung ương lại không đề bạt Trần Bạch Đằng vào Ban Lãng Đạo TWCMN?” Đối với cá nhân Trần Bạch Đằng, trong thâm tâm, ông không hề bất mãn khi TWC phân công cho ông làm Phó Ban Tuyên Huấn của TWCMN; nhưng Trần Bạch Đằng hoàn toàn không phục cách đánh giá của Trung ương Đảng đối với ông, như Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Thọ đã phát biểu trong Đại Hội Đảng lần thứ III! Tâm sự này, ông chẳng bao giờ nói cho ai biết, ngoài người vợ và là đồng chí của ông – Bà Nguyễn Thị Chơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư Pháp của Chính phủ Cách nạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Trần Bạch Đằng vẫn thổ lộ tâm sự này rất tế nhị, trong một số bài thơ của ông, đã in trong tập “Hành Trình” với bút danh Hưởng Triều! (nhà XB

Giải Phóng, Sàigòn, 1970)

   

Đến tháng 10-1963, Quân ủy và Bộ Tư Lệnh Miền của Cộng Sản Miền Nam được thành lập. Nguyễn Văn Linh Bí thư TWc được cử làm Bí thư Quân ủy, Trung tướng Trần Văn Trà ủy viên trung ương Đảng làm Tư Lệnh Miền, Thiếu tướng Trần Độ ủy viên trung ương Đảng là Phó Chính ủy Miền. Tình hình chính trị tại Sàigòn đang sôi động hơn bao giờ hết. Có tin tức tình báo cho biết “Mỹ sắp thay ngựa giữa đường” – nghĩa là Mỹ sẽ cho đảo chính hai anh em ông Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu! Trong khi đó, đặc khu ủy Cộng Sản Sàigòn-Giađịnh-Chợlớn (T4), do Võ Văn Kiệt làm Bí thư, đang cần một cán bộ lãnh đạo có khả năng chuyên trách về Trí thức, Học sinh-Sinh viên, để đáp ứng tình hình mới. Thường vụ TWC xét đi xét lại, không ai có khả năng hơn Tư Ánh! Cho dù Nguyễn Văn Linh không muốn, nhưng cả Ban Thương Vụ TWC đều thông qua và chính Võ Văn Kiệt đã trực tuếp đề nghị, nên Nguyễn Văn Linh buộc phải đồng ý cử Trần Bạch Đằng làm Phó Bí thư Đặc khu ủy T4 kiêm Phó Ban Tuyên Huấn TWC (R). Từ đây, bộ phận Trí Vận và Thanh Vận (bao gồm Học sinh-Sinh) do Trần Bạch Đằng trực tiếp lãnh đạo, trụ tại Mật Khu Hố Bò (Củ Chi) (Theo lời kể của ông Nguyễn Hộ, Phó Ban Công Vân R. và làThường vụ Đặc khu ủy T4 – thời kỳ 1964-1975).

 

Phải nói cho đúng sự thật rằng: Với cương vị Phó Bí Thư Đặc Khu ủy T4, ông Trần Bạch Đằng, là một Cán Bộ Lãnh Đạo (ở tuổi 40) xuất sắc nhất, trong sự chỉ đạo phong trào đấu tranh chính trị của Trí thức và Học sinh – Sinh viên Sàigòn - Giađịnh –Chợlớn! Trần Bạch Đằng là một cán bộ lãnh đạo biết kết họp giữa thực tiễn và lý luận. Ông không sùng bái “chủ nghĩa giáo điều” mà cũng không tôn thờ “thực tế chủ nghĩa”, nên ông đã được nhiều trì thức và Học sinh-Sinh viên mến phục, và tình nguyện dấn thân theo sự chỉ đạo của ông, vì chính ông cũng dấn thân hành động như một chiến sĩ thực thụ! (Lời nhận xét của Giáo sư Dương Văn Kiết, nguyên Bộ Trưởng Giáo Dục của Chính phủ CMLT miền Nam Viêt Nam)

    

Ngày 18-6-1965, Chính phủ Johnson bật đền xanh cho các Tướng Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh tướng Nguyễn Khánh, để lập một chính quyền quân sự hóa. Và đến ngày 17-7-1965, tổng thống Mỹ Johnson đã chuẩn y đề nghị tăng quân Mỹ cho chiến trường Miền Nam Việt Nam (từ 75.000 quân tăng lên 184.000 quân vào cuối năm 1965), đồng thời chấp thuận kế hoạch “Tìm và Diệt” của Tướng Westmoreland. Nhạy bén trước tình hình đó, ông Trần Bạch Đằng đã có nhận định như sau:

“Đế quốc Mỹ đang đẩy cuộc “Chiến Tranh Đặc Biệt” trên chiến trường Miền Nam lên đến mức độ cao, bao gồm một số yếu tố của “Chiến Tranh Cục Bộ”, do đó chiến tranh sẽ vượt khỏi phạm vi Miền Nam, leo thang ra miền Bắc nửa!” (Theo lời kể của Trung tướng Trần Hải Phụng, về buổi thuyết trình của anh Tư Ánh cho toàn thể sĩ quan của quân khu T4 vào cuối tháng 12-1965). Thực tế lịch sử “Chiên Tranh Việt-Mỹ” đã diễn ra đúng như nhận định của Trần Bạch Đằng! Và cũng nhờ nhận định sáng suốt này mà quân khu T4 đã bảo toàn được lực lượng và chống kế hoạch “Tìm và Diệt” của quân Mỹ có hiệu quả, trong những năm 1966-1967!

    

Trong cuộc “Tổng Tấn Công và Nổi Dậy” vào dịp Tết Mậu Thân (1968), Trần Bạch Đằng với cương vị “Chánh ủy” của một cánh quân, đột nhập vào Chợlớn từ hướng Binh Chánh vào Phú Lâm, tiến tới chợ Bình Tây và khu vực Tổng đốc Phương… Theo lời kể của  một số sĩ quan và chiến sĩ quân khu T4 (cánh quân do Trần Bạch Đằng làm Chánh ủy) rằng: “Khi tiến thì anh Tư Ánh luôn luôn đi theo Đội tiên phong! Nhưng, khi rút lui thì anh Tư Ánh lại đi cùng với đội thu quân, là đơn vị có nhiệm vụ rút sau cùng!” Sau cuộc Tổng Tấn Công và Nổi Dậy lần thứ I (từ 31-1 đến 25-2-1968), trong cuộc họp “sơ kết Tổng Tấn Công và nổi Dậy đợt I” tại chiến trường Sàigòn-Giađịnh-Chợlớn của quân khu T4, để rút kinh nghiệm cho cuộc “Tổng Tấn Công và nổi Dây đợt II”, Trần Bạch Đằng đã đề nghị lên TWC và Bộ Tư Lệnh Miền rằng: 

“Không nên tiếp tục “Tổng Tấn Công và Nổi Dậy đợt II và đợt III” nữa, bởi vì không còn yếu tố bất ngờ đối với địch nữa. Chắc chắn quân Mỹ đã có phòng hờ và đang giăng bẫy để tiêu diệt quân ta ngay trong các thành phố. Chúng ta phát huy thắng lợi của đợt I (nên nhớ, trong đợt I, chúng ta cũng bị tiêu hao sinh lực không ít) để củng cố hậu phương, xây dựng lực lượng, mở rộng vùng giải phóng áp sát các thành phố và các trục giao thông chính, hình thành thế bao vây, cắt vùng lãnh thổ của địch thành từng lõm Và ngay trong vùng địch chiếm ta cũng xây dựng “lõm giải phóng và lực lượng du kích bí mật. Chờ thời cơ chin muồi, cả thành thị và nông thôn cùng nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam!” (Theo Báo Cáo Sơ Kết “TTC và ND đợt I” của Quân khu T4, tháng 4-1968, lưu trữ tại BTL QĐND thành phố HCM).     

    

Chính vì ý kiến sáng suốt này, (tuy nhất thời không được chấp nhận) mà sau năm 1968, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng đã quyết định đưa Trần Bạch Đằng lên làm Bí Thư Đặc khu ủy T4, thay Võ Văn Kiệt (Võ Văn Kiệt chuyển về làm Bí thư Liên khu ủy Miền Tây Nam Bộ)  [Lịch Sử Đẳng CSVN đã cố tình viết sai sự thật rằng: Từ năm 1969 “Nguyễn Văn Linh làm Bí thư thành ủy Sàigòn - Giađịnh” (xem tập I, đã dẫn, trang 445) nhằm mục đích phủ nhận vai trò của Trần Bạch Đằng và đề cao Nguyễn Văn Linh!]

    

Phải thừa nhận rằng: Trần Bạch Đằng là người có công đầu trong việc vận động và tổ chức “lực lượng thứ ba” ở miền Nam,  liên minh với MTDTGP, để chống Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, trong thời kỳ 1967-1972. (Hai Cán bộ Phụ tá đắc lực trong công tác Trí Vận cho ông Trần Bạch Đằng, là Tạ Bá Tòng (Tám Cần) và Dương Văn Lễ (Chín Quyền). Năm 1968, khi hình thành Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, ông Tạ Bá Tòng là người thứ hai (sau Nguyễn Hộ) trong Ban Lãnh Đạo. Sau năm 1990, Nguyễn Hộ và Tạ Bá Tòng đều trả thẻ Đảng và bị Đảng cho Công an bắt giam vì tội “chống Đảng”). 

    

Chính Trần Bạch Đằng là người trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức đưa những trí thức lớn trong “lực lượng thứ ba” vào chiến khu để thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”, như Luật sư Trịnh Đình Thảo, Giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Kỹ sư Trương Như Tảng, Giáo sư Bùi Thị Mè, Nhà văn Thanh Nghị v.v… 

    

Tháng 6 năm 1969, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng ở Hànội, quyết định triệu tập “Đại hội Đại biểu Quốc dân Miền Nam để thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”!  Thực chất của quyết định này, nhằm mục đích hỗ trợ cho phái đoàn ngoại giao của MTDTGPMNVN đang họp với Mỹ ở Paris, và  làm áp lực buộc Hoa Kỳ chấp nhận cái gọi là “giải pháp 10 điểm”  (8-6-1969), trong đó nêu ra 2 vấn đề chủ yếu là: Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam; và nội bộ của miền Nam do hai bên miền Nam giai quyết với nhau, nước ngoài không được can thiệp!          

 

Số lần đọc:  509