Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Lê Tùng Minh

 

TRẦN BẠCH ĐẰNG (III)

NGƯỜI CỘNG SẢN ĐA TÀI, NHƯNG BẤT ĐẮC CHÍ CHO ĐẾN KHI NHẮM MẮT LÌA ĐỜI!

 

Cuối năm 1969, sau đám tang ông Hồ Chí Minh (9-1969), Lê Duẫn trực tiếp triệu Trần Bạch Đằng ra Hànội, vừa báo cáo tình hình miền Nam nói chung và Sàigòn nói riêng, vừa bồi dưỡng cả tinh thần lẫn vật chất. Trần Bạch Đằng đi ra Hànội bằng đường Hàng Không: Từ Phnompenh (Cambodia) bay qua Bắc Kinh (Trung Quốc), từ Bắc Kinh qua Hànội. Tại Hànội, Trần Bạch Đằng được sắp xếp ở tại “Khu Biệt Thự Nghỉ Mát của Trung ương”, tọa lạc bên bờ Hồ Tây, phía trên dinh thự nghỉ mát của Hoàng Cao Khải (trước nam 1954), ngay ấp Nghi Tàm, đi về hướng làng Chèm. Trần Bạch Đằng đã được hưởng thụ, ăn uống theo chế độ “Đặc Táo” (rập khuôn theo Trung Cộng). [Theo Trung Cộng có 4 chế độ ăn uống cho các cấp bậc khác nhau như sau: Đại Táo dành cho binh sĩ và nhân viên cùng cán bộ sơ cấp! Trung Táo dành cho sĩ quan, từ Thượng úy đến Thiếu tá, và cán bô Trung cấp. Tiểu Táo dành cho sĩ quan từ Trung tá đến Thiếu tướng và Cán bô cao cấp. Đặc Táo dàng cho ủy viên Trung ương Đảng và từ Trung tướng đến Đại tướng cùng hang Bộ trưởng trở lên!].

    

Trước khi trở về B2 (chiến trường Nam Bộ) chính ông Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã hứa với Trần Bạch Đằng là: “Trong kỳ họp Trung ương  lần thứ 19 (khóa III, sẽ đề nghị bổ sung đồng chí (Trần Bạch Đằng) vào hàng ủy viên trung ương chính thức, theo trường hợp ngoại lệ đặc biệt!” (Tiết lộ của Trần Quỳnh, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thông Tin, nguyên Bí thư riêng của Lê Duẫn). Vào giữa tháng 4-1970, Trần Bạch Đằng đi xe lửa “Quốc Tế Liên Vận” sang Bắc Kinh, và từ Bắc Kinh bay về Phnompenh (Cambodia), rồi vào mật khu B2. Vào những năm 1970-1973, mật khu B2. nằm trên lãnh thổ Campuchia, rải ra trong các khu rừng thuộc tỉnh Stungtreng, Kampongcham, Preyveng,Xoairiêng, Tàkeo … Đặc khu ủy T4 do ông Trần Bạch Đằng (Tư Ánh) làm Bí Thư; Mai Chí Thọ (Năm Xuân) làm Phó Bí thư; Nguyễn Hộ (Tám Yến) làm ủy viên thường trực Ban Thường vụ; Trần Hải Phụng (Ba Đặng) làm ủy viên thường vụ kiêm Tư Lệnh Quân khu …Thời gian này, T4 trú đóng tại tỉnh Preyveng, trong khu rừng Tuaxàke, và di chuyển sang Kongpomhcham (trong khu rừng dọc theo con sông Bé) mỗi  khi có động! [Trong thời gian 1970-1972, TWC miền Nam đo Phạm Hùng (Sáu Hồng) làm Bí Thư, Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm Phó Bí thư kiêm Trưởng Ban Tuyên Huấn]

    

Từ cuối năm 1969, vùng “nông thôn giải phóng” thuộc quyền kiểm soát của MTDTGPMNVN (3/4 nông thôn Nam bộ), đã bị Liên quân Mỹ-VNCH tái chiếm và bình định gần hết, Do đó, các cơ quan đầu não của TWC miền Nam, từ cấp Miền, Khu, Tỉnh, thậm chí cả Huyện, đều lên ẩn trú trên lãnh thổ Campuchia (tại các tỉnh đã nói ở trên).

    

Cho nên, khi từ Hànôi trở về đến T4, Trần Bạch Đằng triệu tập ngay một cuộc họp bất thường của Ban Chấp Hành Khu ủy T4, để trao đổi chủ trương “Trở về chiến trường T4, quyết chọc thủng phòng tuyến bình định của địch, mở nhiều lõm giải phóng sát nách thành phố Sàigòn - Giađịnh - Chợlớn vào cuối năm 1970, đầu năm 1971!” (Theo tiết lộ của Hai Việt, nguyên Chánh văn phòng khu ủy T4. Chính Hai Việt được cử làm thư ký hội nghị này) Có thể nói, đây là một chủ trương rất táo bạo!

    

Sau khi bàn bạc cụ thể về mọi mặt, trong việc “tương quan Thế và Lực của Ta và Địch” , cả hội nghị đều nhất trí với lết luận của Trần Bạch Đằng rằng: Địch mạnh hơn Ta cả về Thế và Lực! Ta chỉ hơn Địch là có niềm tin và quyết biến niềm tin thành sức mạnh để giành thắng lợi cuối cùng!” (Theo tiết lộ của Hai Việt, đã dẫn)

    

Sau khi thống nhất chủ trương trên, theo đề nghị của Trần Bạch Đằng, hội nghị sẽ quyết nghị hai việc cụ thể như sau: Một, tổ chức “Hội nghị Đại biểu toàn Đặc khu T4” lấy tên là “Hội nghị Bình Giả 5” vào dịp Tết Tân Hợi (cuối tháng 1-1971) Hai, tổ chức ngay môt “lực lượng xung kich” gọn nhẹ, nhưng có khả năng tác chiến cao, làm công tác xây dựng cơ sở giỏi, cho luồn về hoạt động ngay tại vùng ven Sàigòn - Giađịnh - Chợlớn, chuẩn bị cho đại bộ phận của Đặc khu ủy T4 trở về chiến trường, sau khi Hội nghị Bình Giả 5 kết thúc!” (Theo tiết lộ của Hai Việt, đã dẫn)

   

Chủ trương chiến lược và hành động cụ thể vừa nêu trên, đều được báo cáo về cả hai nơi, cùng một thời gian: Một, điện thẳng cho ông Lê Duẫn ở Hànội để báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo (như Lê Duẫn đã chỉ thị trực tiếp cho Tư Ánh trước khi về B2) Hai, gửi hỏa tốc về TWC để báo cáo và xin ý kiến lãnh đạo trực tiếp!

    

Có một lực lượng đã ngấm ngầm chống Trần Bạch Đằng và đang tìm cơ hội để đẩy ông ra khỏi cái ghế Bí Thư Đặc Khu ủy T4! Nhưng, không hiểu Trần ạch Đằng có “ngửi” thấy cái “mùi tranh đoạt quyền vị trước mũi súng của kẻ thù”" hay không? Và Hội nghị Bình Giả 5 chính là cơ hội “ngàn năm có một” cho những kẻ đang có dự mưu lật đổ ông Bí thư Đặc khu ủy Sàigòn – Giađịnh - Chợlớn!

    

Kẻ chỉ huy từ xa để thực hiện “cuộc đảo chánh hòa bình” này là Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Kẻ nằm ngay cạnh Trần Bặch Đằng, làm phản gián nội bộ để báo cáo những sơ hở có thể qui kết thành sai lầm xề tư tưởng lãnh đạo của Trần Bạch Đằng, là Mai Chí Thọ (em ruột của Lê Đức Thọ) đang là Phó Bí Thư Đặc khu ủy T4. Kẻ trực tiếp tiến hành “cuộc đảo chánh hòa bình” là Nguyễn Văn Linh, đương kim Phó Bí Thư TWC miền Nam. (Tiết lộ của ông Sáu Hoàng (Cao Đăng Chiếm) Phó Ban An Ninh Cục R. Theo lời kể lại của Bảy Nam, Phó Ban An Ninh Đặc khu T4.)

    

Hội nghị Bình Giã 5” vào cuối tháng 1-1971, họp tại mật khu ở vùng Sông Bé, thuộc tỉnh Kongpongcham (Campuchia). Thành phần tham dự hội nghị gờm có: Toàn bộ cán bộ Trung-Cao cấp của các ngành thuộc Đặc khu T4, kể cả đại biểu các cơ sở nội thành Sàigòn-Giađịnh-Chọlớn (Trí thức, Sinh viên-Học sinh, Công nhân, Phụ nữ, Tôn giáo, Đảng phái) Ngoài ra, còn có một số cán bộ lãnh đạo đầu ngành của TWC cũng được mời tham dự. Ông Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư TWC, thay mặt TWC trực tiếp chỉ đạo hội nghị Bình Giả 5!

    

Theo dự định, Hội nghị Bình Giã 5 chỉ gói gọn trong vòng một tuần lễ. Nhưng, do nảy sinh vấn để ”Đấu tranh Tư tưởng giai cấp trong Công tác Lãnh đạo Đặc khu T4”, do Nguyễn Văn Linh nêu ra, vào lúc chương trình hội nghị sắp kế thúc! Cho nên, hội nghị Bình Giã 5 phải chia làm hai chương trình: Chương trình I là chương trình mở rộng như Đặc khu ủy đã  dự định! Chương trình II kà chưong trình thu hẹp, những đại biểu tham dự chỉ gồm Ban Chấp Hành Đảng bộ Đặc khu T4 và các Bí thư-Phó Bí thư các quận ủy thuộc T4, cùng với phái đoàn của TWc do Nguyễn Văn Linh dẫn đầu. Chương trình II sẽ họp trong vòng một tuần!

    

Tại sao Nguyễn Văn Linh lại có cớ để nêu ra vấn đề “Đấu tranh Tư tưởng Giai Cấp trong Công tác Lãnh đao Đặc khu T4”? Nguyên nhân là từ nội dung “Báo Cáo Chính Trị” của ông Trần Bạch Đằng, trong 2 ngày đầu của hội nghị. Trong đó ông đã nêu ra hai vấn đề về tư tưởng có tầm chiến lược, trong công tác lãnh đạo công cuộc giải phóng đô thị:

     - Một là: Trong nền kinh tế thị trường của Chủ nghĩa Tư bản Thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam, bản chất của giai cấp công nhân đã biến chất, không còn đóng vai trò tiền phong, lãnh đao phong trào cách mạng ở đô thị như trước năm 1945 nữa!

  

Chủ lực quân của phong trào cách mạng ở đô thị hiện thời, qua thực tiển đấu tranh từ 1955 đến nay, đã cho thấy: Học sinh – Sinh viên nói riêng, Thanh niên các tầng lớp nói chung (không phân biệt giai cấp, tôn giáo) là quân chủ lực của phong trào cách mạng đô thị miền Nam Việt Nam. Trí thức và Tôn giáo yêu nước là lực lượng liêm minh rất quan trọng trong công cuộc giải phóng đô thị!

    

- Hai là, tư tưởng chiến lược “Lấy Nông Thôn Bao Vây Thành Thị” của Mao Trạch Đông, đã lỗi thời đối với tình thế cách mạng giải phóng của miền Nam hiện nay! (Nông thôn giải phóng của chúng ta hiện đã nằm trong sự kiểm soát của địch, lam gì có nông thôn giải phóng để bao vây thành thị?) Chúng ta phải tiến hành so song hai cuộc cách mạng giải phóng: Giẳi phóng thành thị để mở đường giải phóng nông thôn! Giải phóng nông thôn để hổ trợ giải phóng thành thị!

    

(Cả hội trường vổ tay hoan hô nhiệt liệt đối với luận điểm này của Trần Bạch Đằng! - Theo lời kể lại của Nguyễn Hồ (Tám Hồ) nguyên ủy viên Ban Thư Ký hội nghi Bình Giã 5, sau 1975 là Chánh Văn phòng Thành ủy Thành phố HCM). Nguyễn Văn Linh tỏ vẻ khó chịu ra mặt, bởi vì trong bài thuyết trình của ông, trước đây hơn một tháng, ở TWC, và đã in gửi cho các các cấp ủy toàn miền học tập, trong đó ông đặc biệt đề cao tư tưởng chiến lược “Lấy Nông Thôn Bao Vây Thành Thị” của Mao Trạch Đông! Vì vậy, Nguyễn Văn Linh đã nghĩ rằng Trần Bạch Đằng cố ý phê phán ông ta (?) Cho nên nhân cơ hội Trần Bạch Đằng đề cao thành phần Học sinh – Sinh viên, Trí thức và Tôn giáo mà coi nhẹ giai cấp công nhân(?) Nguyễn Văn Linh lấy tư cách là Phó Bí Thư TWC triệu tập Hội nghị Thu hẹp, được xem như chương trình II của “Hội nghị Bình Giả 5”!

    

Trong cuộc Hội nghị Bình Giả 5 thu hẹp (đầu tháng 2-1971) t tai khu rừng trong vùng Sông Bé, tỉnh Kongpongcham, Nguyễn Văn Linh quyết liệt phê phán Trần Bạch Đằng, như sau:      

    

”Đồng chí Tư Ánh đã phạm sai lầm “Hữu Khuynh”rất nghiêm trọng về nặt “Tư Tưởng Lãnh Đạo” của Đảng, đối với phong trào cách mạng giải phóng của quần chúng ở đô thị! Sự sai lầm nghiêm trọng đó, đã thể hiện ở những điểm cụ thể như ”Một là, coi thường vai trò tiền phong và lãnh đạo của giao cấp công nhân! Hai là, coi trọng vai trò của trí thức, Sinh viên-Học sinh và tôn giáo, trong công cuộc cách mạng giải phóng ở đô thị, thậm chí đã đưa “thành phần không có lập trường kiên định” lên “vai trò xung kích”? Ba là, xa rời “tư ttưởng chiến lược” có tính chất kinh điển trong cuộc cách mạng giải phóng miền Nam là “lấy nông thôn bao vây thành thị”, cũng có nghĩa là không triệt để chấp hành đường lối cách mạng giải phóng miền Nam của Đảng!” (Theo Biên Bản về “cuộc họp phê phán những sai lầm về tư tưởng lãnh đạo của đp6ồng chí Tư Anh” – Tháng 2-1971, trong Hội nghị Bình Giả 5 thu hẹp – Lưu trử tại Ban Tổ Chức Đặc khu ủy T4 – Sau 30-4-1975 là Ban Tổ Chức Thành ủy Thành phố HCM)

    

Đáng chê trách nhất là: Những người vỗ tay hoan hô nhiệt liệt bản “Báo Cáo Chính Trị” của Trần Bạch Đằng, trong những ngày đầu của Hội nghị Bình Giả 5 mở rộng, thì bây giờ lại vỗ tay hoan hô nồng nhiệt những lời phê phán của Nguyễn Văn Linh đối với Trần Bạch  Đằng. Tuy nhiên cũng còn một số người có tư cách, mặc dù họ không ra mặt phản đối Nguyễn Văn Linh, nhưng họ vẫn không ra mặt hoan hô ông Phó Bí Thư TWC! Đó là các ông: Trần Hải Phụng (Tư Lệnh Quân khu T4), Nguyễn Hộ (Trưởng Ban Công Vận T4), Tạ Bá Tòng (Phó Ban Trí Vận T4)

    

Rõ ràng, những lời phê phán của Nguyễn Văn Linh đối với Trần Bạch Đằng, là những lời của phe bảo thủ, giáo điều và tả khuynh, đang lộng hành trong Ban Chấp Hành trung ương Đảng khóa III. Nguyễn Văn Linh dựa vào thế của phe đó, để thực hiện ý đồ cá nhân, cũng để tiến hành âm mưu của nhóm Mười Cúc-Năm Xuân là đẩy Tư Ánh ra khỏi ghế Bí thư Đặc khu ủy T4, đồng thời chận hẳn con đường vào Trung ương (như lời hứa của Lê Duẫn đối với Tư Ánh).

    

Chắc chắn Trần Bạch Đăng cũng nhận thấy ý đồ của Nguyễn Văn Linh! Do đó, ông đã kiên quyết không chấp nhận lời phê phán có ý đồ xấu của Nguyễn Văn Linh! Cho nên, Trần Bạch Đằng đã phát biểu lời cuối cùng rằng:

    

“Tôi nói thật lòng với các đồng chí có mặt trong cuộc họp bất thường, không theo nguyên tắc dân chủ này rằng: Mấy hôm nay, tôi đã suy xét cặn kẽ những lời phê phán của đồng chí Mười Cúc, và cuối cùng tôi khẳng định trên tinh thần khách quan là, Tôi không phạm sai lầm như những lời phê phán nặng mùi Bảo Thủ Cực Tả và Giáo Điều Chủ Nghĩa của đồng chí Mười Cúc! Tôi quyết bảo lưu ý kiến này, và sẽ kháng nghị cùng một thời gian lên cả hai cấp lãnh đạo: Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng và Trung Uơng Cục miền Nam!”                         

    

Phát biểu lời cuối cùng xong, Trần Bạch Đằng đã tự động bỏ cưộc họp, trước khi “Hội Nghị Bình Giả V thu hẹp” bế mạc! (Theo tiết lộ của Hai Việt, Trưởng Ban Thư Ký Hội Nghị Bình Giả V)

    

Sau Hội Nghị Bình Giã V, theo đề nghị của Nguyễn Văn Linh, Thường vụ TWC quyết định: Hạ chức Trần Bạch Đằng từ Bí thư Đặc khu ủy T4 xuống Phó Bí thư thứ hai, chuyên trách công tác Tuyên huấn (!?) Ngyưễn Văn Linh Phó Bí thư TWC sẽ kiêm chức Bí Thư Đặc khu ủy T4, Mai Chí Thọ giữ chức Phó Bí thư thứ nhất, đặc trách An Ninh, Thành vận và Trí vận.  Đến đầu năm 1972 thì Trần Bạch Đằng bị mất luôn chức Phó Bí thư thứ hai của Đặc khu ủy T4, bị rút về TWC để “kiểm thảo tư tưởng hữu khuynh đã phạm trong thời gian lãnh đạo Đặc khu ủy T4”!

    

Suốt 6 tháng cuối năm 1972, ăn nằm ở ATK (An toàn khu) của TWC, tại khu rừng bên hữu ngạn sông Mékong, thuộc tỉnh Stungtreng (Campuchia), Trần Bạch Đằng phải viết bản tự kiểm thảo theo yêu cầu của TWC. Nhưng, ba lần bốn lượt, kiểm điểm tới, kiểm điểm lui, trước sau Trần Bạch Đằng vẫn không nhận có sai phạm về điều gọi là “tư tưởng cơ hội, hữu khuynh trong lãnh đạo Đặc Khu ủy T4” (!?) Trần Bạch Đằng kiên quyết bảo lưu ý

kiến, chờ đưa ra Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lầm thứ IV của Đảng Cộng Sản Viêt Nam(?)  

 

Nuôi chí lớn để trở thành “Lãnh tụ Cộng sản Cấp tiến” của Trần Bạch Đằng đã trở thành “Người Cộng sản Bất Đắc Chí” kể từ nhửng ngày bị rút về R,

 

**

    

Sở dĩ sau Hội Nghị Bình Giả V, Trung ương Cục Miền Nam chưa đẩy Trần Bạch Đằng ra khỏi Thưởng vụ Đặc khu ủy T4 là vì Thường vụ TWC phải chờ ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí Thư Lê Duẫn. Bởi vì, sau cuộc Tổng Tấn Công năm 1968, chính Lê Duẫn trực tiếp quyết định đưa Trần Bạch Đằng lên làm Bí Thư Đặc khu ủy T4. Và cũng vì “vụ Tư Ánh” mà Lê Duẫn và Lê Đức Thọ đã cãi nhau! Khi mới nhận được báo cáo của TWC về “sai lầm hữu khuynh trong tư tưởng lãnh đạo” của Trần Bạch Đằng; đồng thời cũng nhận được ý kiến bảo lưu và kháng nghị của Trần Bạch Đằng; Lê Duẫn có vẻ bực tức nói với Lê Đức Thọ rằng: “Cái tay ăn trầu như đàn bà ấy (ám chỉ Nguyễn Văn Linh (nó không nể tớ chút nào!  Trần Bạch Đằng muốn chạy trước thiên hạ, nhưng không coi thời thế. Tuy nhiên hắn có tài, cứ để hắn chạy thử coi có vấp ngã không rồi sẽ tính cũng chưa muộn. Đảng ta đang cần những cán bộ dám sáng tạo cách mạng về cả hai mặt: Lý luận và Thực tiển!”

    

Lê Duẩn hoàn toàn không biết chính Lê Đức Thọ chỉ đạo cho Nguyễn Văn Linh và Mai Chí Thọ tiến hành lật đổ Trần Bạch Đằng (?) Vì thế, Lê Đức Thọ làm sao bằng lòng với anh Ba Duẫn được! Lê Đức Thọ mới nói khéo rằng: “Anh Ba nặng về tình cảm với Tư Méo (tức Tư Ánh) rồi đó! Mười Cúc và Năm Xuân cũng vì sự nghiệp của Đảng mà phê phán Tư Méo, chi mong nó thấy sai và thành khẩn sửa chữa thì đâu có gì, phải không? Đằng này, Tư Méo ỷ thế của anh Ba, không chịu nhận lỗi, mà còn kháng nghi lung tung, cho nên không thể không kỷ luật đâu anh Ba! Thôi, chuyện Tư Méo để tổ chức giải quyết! Anh Ba hãy lo bồi dưỡng mấy “bà nhí” của anh, để khỏi tùm lum ra, phải đến tôi can thiệp thì khó xử lắm đó anh Ba!” (Theo tiết lộ của Phan Triêm, Phó Ban Tổ Chức Trung ương Đảng, Phụ tá đặc trách phản gián cho Lê Đức Thọ)

     

Số phận của Trần Bạch Đằng từ nay (1972) đã được định đoạt bới nhóm bảo thủ cực tả có quyển lực: Lê Đức Thọ-Nguyễn Văn Linh! Trần Bạch Đằng phải rút vào trong cái vỏ bọc “Sáng tác Thơ-Văn và Nghiên Cứu Lý Luận Marxisme-Léninisme.”

   

Từ 1973 đến 1975, ông Trần Bạch Đằng sống như “Ẩn Sĩ”! Ông cùng viên thư ký (Sáu Hậu, người Hànội. Sau 30-4-1975 được làm Phó Văn phòng UBND Thành phố HCM), cô y tá, cô thư ký đánh máy chữ và một tiểu đội bảo vệ, đã dựng lều bằng lá trung quân (loại lá cây không cháy), trong một cánh rừng bằng lăng, bên thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông, thuộc vùng đất Lò Gò của tỉnh Tây Ninh, giáp giới với tỉnh Preyveng (Campuchia). Trong những năm này, về hình thức, Trần Bạch Đằng vẫn là Phó Ban Tuyên Huấn TWC, nhưng thực chất thì “có Danh mà không có Quyền” (Theo tiết lộ của Hai Khuynh, Chánh Văn Phòng, thường vụ Đảng ủy của Ban Tuyên Huấn TWC) 

    

Từ giữa năm 1974 cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975, là thời gian khổ tâm nhất của Trần Bạch Đằng! Các cơ quan trực thuộc TWC rộn rịp chuẩn bị ra mặt trận, tham gia chiến dịch Hồ Chí Miinh! Ngay đối với Ban Tuyên Huấn do ông phụ trách (trên danh nghĩa), ông cũng không cùng họ chuẩn bị ra mặt trận, bởi vì Thường vụ TWC đã gợi ý rằng: “Đồng chí Tư Ánh chưa “khỏe” hẳn, để đồng chí nghỉ thêm một thời gian nữa! Đảng ủy B an Tuyên Huấn phải lo chỗ ăn chỗ ở thật chu đáo cho đồng Tư Ánh…” (Theo tiết lộ của Hai Khuynh, đã dẫn).

 

Nhờ sự “quan tâm” của Thường vụ TWC, mà Trần Bạch Đằng “an tâm” ngồi hoàn thành bản thảo lần thứ nhất của bộ tiểu thuyết tình báo (6 tập) với đề tựa là “Ván Bài Lật Ngửa”…

[Bộ tiễu thuyết này với nhân vật chính là Nguyễn Thành Luân, mà tác giả Nguyễn Trường Thiên Lý (tức Trần Bạch Đằng) đã hư cấu từ nhân vật thật là Phạm Ngọc Thảo - Tình Báo viên cao cấp của CSVN, trong những tháng năm Phạm Ngịc Thảo trá hàng, trở về với chính nghĩa quốc gia” (!) Sau năm 1978, Trần Bạch Đằng đã sửa chữa, hoàn chỉnh bản thảo lần cuối cùng, đưa cho Ban Tuyên Huấn kiểm duyệt, đặng ấn hành trước năm 1980, nhưng đã bị Tố Hữu, ủy viên Bộ Chính Trị đặc trách Tuyên Huấn, cho “ngâm tôm” đến năm 1985 sau khi bắt buộc Tác Giả sửa chữa một số sự kiện và quan điểm đánh giá nhân vật, mới chấp thuận cho in, nhưng chỉ giao cho nhà xuất bản tỉnh ấn hành – nhà xuất bản Tổng Hợp Hậu Giang. Thế là bộ tiểu thuyết “Ván Bài Lật Ngữa” của Nguyễn Trường Thiên Lý đã ra mắt độc giả trong nước vào năm 1987. Đến năm 1989, trên thị trường sách Việt ngữ ở Hoa Ký, độc giả thấy xuất hiện cuốn “Ngô Đinh Nhu” của tác giả FW.09 (?) do nhà xuất bản Nguyễn Thị Muôn (?) ấn hành. Sự thật, FW.09 là một kẻ “đạo văn” trắng trợn! Ông ta thay tựa “Ván Bài Lật Ngửa” thành tựa Ngô Đình Nhu”, và đổi tên Nguyễn Thành Luân thành Phạm Ngọc Thảo (!?)…].

    

Sau 30-4-1975 đến Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ IV của Đảng CSVN (12-1976) Trần Bạch Đằng về Sàigòn ở, nhưng chưa được Đảng giao chức vụ gì trong Đảng, trong chính quyền hay trong Mặt Trận gì cả! Ông chỉ được một “ân huệ” duy nhất của Thành ủy Thành phố HCM, là cấp cho một biệt thự ở đầu đường Mạc Đỉnh Chi. Thời gian này Trần Bạch Đằng chỉ làm “cố vấn” cho mấy tờ náo như Sàigòn Giải Phóng, Công An, Tuổi Trẻ, Thanh Niên … Và ông cũng được “Hội Trí Thức Yêu Nước”, do Tạ Bá Tòng phụ trách, mời thuyết trình về: Chính sách của Đảng với trí thức” cho trí thức của chế độ cũ nghe, nhưng chỉ với tư cách là nguyên Phó Ban Tuyên Huấn của TWC, chớ không giới thiệu chức vụ gì sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 (?)    

    

Trong Đại Hội lần thứ IV (12-1976) ý kiến bảo lưu của Trần Bạch Đằng về sai lầm “hữu khuynh trong tư tưởng lãnh đạo” cũng đã bị “chìm xuồng” luôn! Từ Đại Hội IV đến Đại Hội V (12-1976 đến 3-1982) Lê Duẫn vẫn tiếp tục được “bầu” làm Tổng Bí Thư Đảng CSVN, nhưng “Anh Ba Xe Lửa” (tục danh trong thời kỳ hoạt động bí mật của Lê Duẫn), vẫn không có cách nào nâng đỡ “đàn em Tư Ánh” (hay vẫn đánh bài lờ?) Theo tiết lộ của Mười Quảng  (Lê Xuân Tùng), bí thư riêng của Nguyễn Văn Linh, thì sau Đại Hội IV Lê Duẫn đã “gợi ý” cho Sáu Búa (Lê Đức Thọ) là nên tạm thời để Trần Bạch Đằng làm Phó Ban Dân Vận Trung ương, chờ đến Đại Hội V, nếu Tư Ánh được “bầu” vào Trung Ương thì sẽ nâng lên chức Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương (?). Bề ngoài, chìu ý của “Anh Ba Xe Lửa”, Sáu Búa cho gọi Trần Bạch Đằng ra Hànội để “nhận công tác mới” Nhưng, khi Trần Bạch Đằng đã ra tới Hànội, Lê Đức Thọ cứ để nằm ở nhà khách “ngồi chơi xơi nước”, viện cớ là đồng chí Trưởng Ban Tổ Chức bận đi công tác đột xuất ở các địa phương trên miền Bắc (?) Mãi đến 3 tháng sau Lê Đức Thọ mới ra mặt tiếp Trần Bạch Đằng..

    

Lê Đức Thọ vốn biết Tư Ánh có lòng tự tôn rất nặng, nên đã thọc vào yếu điểm đó! Khi tiếp xúc với Trần Bạch Đằng, Lê Đức Thọ đã huấn thị rằng: Tôi thay mặt Bộ Chính Trị truyền đạt cho đồng chí quyết định của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khóa IV, là nếu đồng chí nhận sai lầm và tự nguyện xin rút “ý kiến bảo lưu” của đồng chí từ năm 1972, thì Trung ương sẽ chiếu cố quá trình công tác mà cử đồng chí giữ chức Phó Ban Dân Vận Trung Ương?”

    

Trần Bạch Đằng rất tức giận về thái độ niềm nở giả tạo của Sáu Búa, thấy rõ xí đồ của ông Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương là không muốn tải điều kiện cho Trần Bạch Đằng vào Trung ương khóa V, nên Trần Bạch Đằng đã nói thẳng với Sáu Búa rằng:

“Nếu Trung ương không giải quyết dứt khoát ý kiến bảo lưu về sai lầm “tư tưởng hữu khuynh trong lãnh đạo”, thì tôi không dám nhận bất cứ chức vị lãnh đạo nào do tổ chức phân công!”

      

Thế là … Trần Bạch Đằng lại quay trở về Sàigòn, sống một cuộc đời của một Cán Bộ Cộng Sản, đang bị Đảng CSVN vùi dập theo chính sách “vắt chanh vỏ vỏ”, mà những kẻ có quyền thực hiện thủ đoạn này là Lê Đức Thọ (Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương) và Nguyễn Văn Linh (Bí Thư Thành ủy Thành phố HCM) cấu kết với nhau, vứt bỏ một tài năng lãnh đạo, có khả năng vượt qua đầu của họ, nếu Trần Bạch Đằng được vào Trung ương Đảng khóa V (!? )

    

Năm 1985, khi “Hội Truyền Thống Kháng Chiến Thành Phố Hờ Chí Minh” thành lập, do Nguyễn Hộ làm Chủ Tịch, Trần Bạch Đằng (cùng tướng Trần Văn Trà) làm Cố vấn. Nhưng, khi Lê Đức Thọ chỉ cho phép thành lập “Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ Thành Phố Hồ Chí Minh” (16-5-1986) tự nhiên không thấy tên ông Trần Bạch Đằng trong Ban Cố Vấn (?) Phải chăng, vì chuyện ông bị tập đoàn Lê Đức Thọ-Nguyễn Văn Linh loại bỏ Trần Bạch Đằng ra khỏi “Danh Sách Đại Biểu” đi dự Đại Hội VI (15-12-1986), mà ông chán đời (hay sợ liên lụy) nên ông Không dám tham gia cái Câu Lạc Bộ mang tính đối kháng sự lãnh

đạo của Đảng CSVN? Chính vì thế mà nhiều “đồng chí kháng chiến cũ” đã chê trách ông là cầu an hưởng lạc!?

    

Có lẽ Trần Bạch Đằng đã nhận thấy sự phũ phàng về thân phận của người trí thức theo Đảng CSVN, mà bằng chứng sờ sờ trước mắt như bi kịch chính trị của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Giàu (Nguyên Bí Thư Xứ ủy CS Nam kỳ trong những năm 1941-1945, và cũng là người thày đưa ông vào Đảng?) Và bao nhiêu tấm gương trí thức theo Đảng từ Cách mạng tháng Tám 1945, đã bị vắt chanh bỏ vỏ sau ngày gọi là “Thống Nhất Đất Nước”, như Trần

Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước v.v…. Do đó, Trần Bạch Đằng đành phải tự vệ, bằng cách rút vào cái vỏ bọc “Viết báo và nghiên cứu lịch sừ”.       

    

Trong thời gian 20 năm cuối đời (1987-2007) Trần Bạch Đăng tập trung tinh thần và trí tuệ vào công việc của nhà viết chính luận - suốt trong 20 năm này, tên của Trần Bạch Đằng hầu như không hề vắng mặt trên các nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san và nguyệt san, không chỉ trên các báo của thành phố Sàigòn, mà còn trên bác báo của các địa phương Nam bộ, và cả các báo ở trung ương. Có thể nói: Ngày nào trong suốt 7.300 ngày đó, không có ngày nào không có bài của Trần Bạch Đằng, không đăng ở báo này thì đăng ở báo khác! Do đó, có một số anh em viết báo chuyên nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh nói vui rằng: “Ông Trần Bạch Đằng đâu cần ăn lương Nhà nước, chỉ riêng tiền nhuận bút là sống phè phởn rồi!” (Theo Lâm Tấn Tài, Tổng thư ký Hội Nhiếp Ảnh Thành phố HCM).

     Những bài báo của Trần Bạch Đăng chủ yếu là viết theo thể loại Chính Luận. Dư luận chung của độc giả trí thức đều thừa nhận rằng: Bài viết của Trần B ạch Đằng khá sâu sắc, có nhiều ý kiến độc đáo! Tuy nhiên, cũng có một số độc giả có hiểu biết đều nhận xét một số bài viết của Trần Bạch Đằng rằng: “Không dám phê bình, chỉ trích thẳng sự sai lầm của Đảng và Nhà nước như một nhà “Đối Kháng”, mà chỉ “nói xa nói gần”…” Và có một số Cán Bộ Kháng Chiến Cũ còn chê trách rằng: “Trần Bạch Đằng ngày nay không còn là Trần Bạch Đằng trong thời kháng chiến nữa!” (Theo Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng …)             

    

Ngoài công việc viết báo, Trần Bạch Đằng còn cộng tác với Giáo sư Tiến si Sử học Trần Văn Giàu, và Phó Tiến sĩ Dân Tộc học Mạc Đường, cùng biên soạn Bô Lịch Sử Việt Nam (4 tập) từ thời Cổ đại đến thời Hiện đại. Họ đã hoàn thành và đã ấn hành 3 tập, và chuẩn bị ấn hành tập 4 thì Trần Bạch Đằng đã qua đời! Trong khi nhắm mắt lìa đời, chắc chắn ông  Trần Bạch Đằng còn mang theo nhiều niềm ân nỗi oán, suốt trong cuộc đời đi theo Cộng Sản?

 

Chẳng cần nói đến cao vọng làm Lãnh Tụ Cộng Sản Cấp Tiến của Trần Bạch Đăng (!) Chỉ cần nói đến ý muốn xuất bản một cuốn sách do ông nghiền ngẫm từ trong kháng chiến, mà cũng không đạt (!) Đó là cuón “Vai trò của Thanh Niên Tiển Phong trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám 1945!”. Chính Trần Bạch Đằng là một nhân chứng lịch sử, đồng thời là một cán bộ lãnh đạo Thanh Niên Tiền Phong trong những ngày “làm nên lịch sử” đó! Ông đã viết xong tác phẩm lịch sử này từ năm 1980, Nhưng khi đưa cho Ban Tuyên Huấn duyệt để xuất bản. Nhưng đã bị Tố Hữu cho vào kho “Lưu Trữ Bản Thảo có Vấn đề về Chính Trị”; bởi vì theo quan điểm lịch sử của Đảng CSVN, Thanh Niên Tiền Phong là đoàn thể do đế quốc Nhật dựng lên (?) Ân hận thay! Biết rõ ràng là đồng chí ủy viên Bộ Chính trị kiêm Trưởng Ban Tuyên Huấn – ông Tố Hữu đã bóp méo lịch sử mà Trần Bạch Đằng vẫn phải im hơi lặng tiếng, để cho đứa “con tinh thần” bị chết oan uổng (!)   

              

Đông Bắc Mỹ

Ngày 15 tháng 6 năm 2007

Lê Tùng Minh                       

 

Số lần đọc:  603