Please support us so we can continue fostering and upholding the values of the Vietnamese literature and art. Since Coi Nguon is a non-profit organization, your monetary donation is tax deductible. We look forward to your generosity and your continual support. Thanks.
• Trung - Nhật căng thẳng ngoài biển
• Khuất tất khi mua thuốc Tamiflu
• Lãnh đạo Miến Điện thăm Trung Quốc
• Người Chăm ở TP Hồ Chí Minh
• ̣Điều tra nạn người Việt trồng cần sa
• Vì sao Biển Đông trở nên nóng hơn?
• Lãnh tụ Kim và người kế vị
• Obama thúc giục hòa bình Trung Đông
• Lãnh đạo cao cấp của VTV từ chức
• Quan hệ đối tác chiến lược Anh-Việt
• Linh mục Lý 'chưa được ân xá'
• Chiến tranh băng đảng ở Mexico
• Trung Quốc đầu tư cho Thiên Chúa giáo
• Tướng Giáp qua năm tháng
• Ông Ôn Gia Bảo muốn cải cách?
• Vụ tin tặc là 'phạm pháp'
• Biển Đông căng thẳng do đâu?
• Thuyết mới về tiến hóa
• Khó đoán quy mô kinh tế thực của TQ
• Phản ứng về phát biểu của Đô đốc Willard
• Người Anh sử dụng truyền thông ra sao?
• Dầu khí và hợp tác ở Biển Đông
• Việt Nam muốn kiểm soát bùng nổ mạng
• Tướng Petraeus: Ðốt Kinh Koran gây nguy hiểm cho binh sĩ
• Angelina Jolie thăm vùng bị lụt tàn phá ở Pakistan
• Iran tuyên bố có quyền chọn thanh sát viên hạt nhân
• TT Obama tìm cách cải tổ hạ tầng cơ sở giao thông của Hoa Kỳ
• Xe bom giết chết 20 người tại Pakistan
• Chỉ tệ Á Châu mạnh hơn gây quan ngại cho giới xuất khẩu
• Tỉ lệ hút thuốc lá tại Mỹ vẫn ở mức 1 trên 5
• Kết quả thăm dò không thuận lợi cho Tổng thống Obama
• Pakistan trả tự do cho 141 ngư dân Ấn Độ
• Lợi tức hàng năm liên hệ đến hạnh phúc
• BP sắp công bố nguyên nhân vụ dầu tràn
• Con nhà độc tài Indonesia kiện hãng hàng không
• Nhật Bản, Trung Quốc phản đối vụ đụng tàu
To be posted
For all correspondence, please contact us at:
P.O. Box 3648
San Jose, CA 95156-3648
United States of America


Ca dao Mẹ - Thơ Chọn lọc Song Nhị
Lục bát của Mẹ . Thơ chọn lọc Dương Quân
Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn Yuriko Koike - Trà Mi
Tôi đi giữa đoàn tù vác đá. Thơ Song Nhị
Án Mạng - Truyện Hồ Linh
Phật Ngọc. hòa bình. an lạc. Tiểu luận Trần Kiêm Đoàn
Đại lễ cung nghinh Phật Ngọc. Tin văn Tin Việt News
Đại họa năm 2012. Nhận định Quảng Trí
Thơ Hoàng Bích Đào. Thơ chọn lọc Hoàng Bích Đào
Lễ hội VH Hải Nhuận - Tin văn Huỳnh Minh Nhựt
HN khởi xướng cuộc chiến. Nhận định Uwe Siemon-Netto
Bình Mnh - Thơ Chọn lọc Tiểu Muội
Em Và Ta - Tho Song Ngữ Hồng Hà
Tôi và Mẹ - Truyện Mimosa
Chùm Thơ Tháng 8 - Thơ chọn lọc Tuệ Nga
XH Dân sự tại VN - Tản văn Đoàn Thanh Liêm
Hoang Tưởng - Thơ chọn lọc Cao Nguyên
Người phụ nữ VN - Tiểu Luận Lê Mộng Nguyên
Thầy tây, thầy ta - Tản văn Phan Văn Song
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận Cung Trầm Tưởng
Chỉ có sự Thật - Tham luận Trần Mạnh Hảo
Vì sao cán bộ mặt dày. Tiểu luận Hà Sĩ Phu
XH Dân sự toàn cầu. Tham luận Đoàn Thanh Liêm
Ngồi lại bên nhau - Tản văn Giao Chỉ San Jose
Khóc Mẹ - Thơ Triều Nghi
Khoảng cách traí tim - Tạp ghi Phong Thu
Chuyện bên đời - Tản văn Hoàng Mỹ Linh
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký Trần Khải Thanh Thủy
Giấc mơ của Mẹ - Thơ Tiểu Muội
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký Trần Khải Thanh Thủy
Trí thức miền Nam - Nhận định Đoàn Thanh Liêm
Phải nói lại những điều đã nói. Thơ Song Nhị
Kể từ thơ lục bát - Thơ hcọn lọc Dương Quân
Mười Năm. Thơ chọn lọc Hoàng Mỹ Linh
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức Đoàn Thanh Liêm
Hệ thống luật pháp . Tiểu luận Phan Văn Song
Albert Einstein - Con người và sự nghiệp Phạm Đình Liên
Geneve chia cắt - Sự kiện Lịch sử Giao Chỉ San Jose
Nguyễn Thùy
NƠI HẢI NGOẠI
Kể từ sau ngày 30 tháng Tư một chín bảy lăm và một số năm sau, làn sóng người Việt Nam đủ mọi thành phần, đủ mọi lứa tuổi, bất chấp hiểm nguy, ồ ạt đành rời Tổ Quốc ra đi tỵ nạn Cọng Sản, tìm tự do nơi xứ người. Đến nay đã xuýt xoát gần 3 triệu người trên khắp năm châu. Từ ngày đó, số người nầy đã cưu mang và nuôi dưỡng Tổ Quốc Việt Nam nơi lòng mình, rồi qua thời gian, mặc nhiên hình thành một «Quốc Gia Văn Hĩa Việt Nam» nơi hải ngoại, theo người viết nghĩ. (dùng từ Quôc gia nơi đây, xem ra gượng ép, có thể nhiều bạn đọc không đồng ý. Có thể dùng một từ khác như “xứ sở” hay “công đồng”, nhưng từ xứ sở nặng về phần lãnh địa, từ công ̣ đồng hơi bị giới hạn vì người Việt hải ngoại luôn luôn dùng từ Cộng Đồng cho riêng một nơi nào đó như: Cộng Đồng người Việt San José, Cộng Đồng người Việt Melbourne,.... Cũng xin bạn đọc để ý: bốn từ “Quôc gia Văn hóa”, người viết luôn để trong ngoặt kép Và cũng xin đừng tách riêng ra tùng từ để khỏi phải vướng vào định nghĩa dông dài ).
Gọi là «Quốc Gia Văn Hóa» vì không có một lãnh địa với biên giới rõ rệt (lãnh thổ và biên giới là của xứ người) và không có một Chính quyền Quốc gia do tồn thể người Việt khắp năm châu cùng thiết lập, công nhận và tôn trọng mà chỉ có sinh hoạt về mặt Văn hóa thôi. ‘Quốc gia Văn hóa VN” nơi hải ngoại không có một hệ thống hành chánh, pháp lý, không quân đội, không cảnh sát, không tòa án, không bắt đóng thuế, không có nghĩa vụ tòng quân,.. (những điều nầy, người Việt hải ngoại phải chu tòan theo bổn phận công dân cho quốc gia mình cư ngụ vì có quốc tịch nước người). Người Việt tỵ nạn Cọng sản lúc rời Tổ Quốc, chỉ mang theo cái «Hồn nước» nơi mình và thể hiện nền Văn hóa truyền thống của Dân tộc nơi những vùng mình cư ngụ. Cái «Quốc gia Văn hóa Việt Nam» không lãnh thổ, không biên cương, không chính quyền nầy nơi hải ngoại đã trở thành một thực thể khó thề phủ nhận, mang chở cái sứ mạng lịch sử lớn lao của lớp người Việt Nam tỵ nạn Cọng sản do dòng Sử mệnh Dân tộc đã giao phó cho họ.
Do đâu có thể bảo như thế ?
A/- Trước tiên về mặt Tâm linh, tất cả các Tôn giáo tại Miền Nam Việt Nam trước đây: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài đều có mặt nơi hải ngoại. Các Giáo hội hoạt động đều đặn, liên tục và phát triển không ngừng dù điều kiện địa dư không mấy thuận tiện. Nhà Thờ, Hội Thánh, Thánh Thất, nhà Chùa mọc lên khá nhiều, tín đồ càng lúc càng đông. Các Giáo Hội và Hội đồn Tôn giáo không chỉ phát huy Đạo pháp nơi người Việt mà còn đoàn kết đấu tranh cho Tự do Tôn giáo, đòi hỏi chế độ Cọng sản phải tôn trọng quyền Tự do Tín ngưỡng cùng mọi Tự do cho người dân nơi quốc nội. Sự địi hỏi nầy phù hợp với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công pháp quốc tế, được Quốc tế hổ trợ, trở thành đe dọa cho chế độ Cọng sản và là một lực lượng hổ trợ tồn dân trong nước cũng như ở hải ngoại tiến đến giải trừ chế độ Cọng sản phi nhân. Các Đạo giáo phương Đông (Khổng, Lão, Phật) cũng được người phương Tây biết đến nhiều, phần nào cũng do từ số người VN tỵ nạn Cộng sản phát huy qua số chùa chiềng, thánh thất, am tu, qua nhũng trước tác bằng ngoại ngữ của tín đồ các Tôn giáo đó. Cộng sản lo sợ sức mạnh Tôn giáo nầy nơi hải ngoại nên tìm đủ mọi cách phá hoại nhưng cũng chỉ thất bại trước ý chí của hàng ngũ tu sĩ cùng tín đồ cương quyết bảo vệ chánh pháp, chống tà thuyết mị dân, đi ngược với lương tri, với tinh thần đạo giáo chân truyền.
Cũng về mặt Tín ngưỡng Tâm linh, « Đạo Ông Bà » truyền thống được thể hiện nơi hải ngoại qua nếp sống tình cảm chan chứa ân tình, qua những phong tục tập quán được gìn giữ cùng lòng vọng tưởng và hướng vọng trở về với Tổ Quốc qua thi ca, nghệ thuật cùng qua những đấu tranh cho một ngày về với cố quận thân yêu.
B/- Tiếp theo, nền Văn Hóa dân tộc được người Việt tỵ nạn Cọng sản thể hiện khắp nơi về tất cả mọi bình diện sinh hoạt, trên tất cả mọi lãnh vực của đời sống:
1) Các món ăn Việt Nam càng lúc càng phổ biến, càng được người ngoại quốc ưa chuộng. Hàng quán Việt
2) Chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam đã trở nên «quen thuộc» với người ngoại quốc qua những lễ lạc Việt Nam, những lần trình diễn, những buổi diễn hành hay biểu tình đấu tranh chống Cọng sản. Vẻ duyên dáng, thanh nhã của chiếc áo phù hợp với nhan sắc phụ nữ Việt
Phụ nữ Tây Phương, thân xác cao lớn không thấy thích hợp nhưng nhìn chiếc áo dài như một hình ảnh thẩm mỹ về y trang những lần nhìn xem các cô gái Việt Nam, kể cả các em bé, uyển chuyển trong chiếc áo dài tha thướt trong những buổi lễ cưới, những ngày lễ Tết hay kỷ niệm lịch sử (ngày giỗ Tổ, kỷ niệm hai Bà, ngày lễ Tôn giáo,…), những buổi tổ chức thời trang tuyển chọn «hoa hậu áo dài» của một số Cộng đồng người Việt. Ngay cả một số nữ dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ cũng đã đặt may và mặc chiếc áo dài Việt Nam trong những lần tiếp xúc với người Việt trong những tiệc cưới, ngày lễ VN hay tiếp xúc công cọng với người Việt. Người viết vô cùng thích thú khi thấy một số ông người Mỹ mặc chiếc áo cổ truyền VN, một số bà người nước ngồi (như bà dân biểu Loretta Sanchez) mặc chiếc áo dài VN trong các cuộc diễn hành ngày Tết Kỷ Sửu vừa qua tại Santa Anna, San José, tại Úc, tại Bỉ,...
Người viết thấy ấm cúng và rạng rỡ cả người lúc nhìn các bà, các ông mặc chiếc áo cổ truyền VN, chiếc áo dài thanh nhã VN trong những lần khấn vái trước bàn thờ Tổ Quốc, hay trong buổi chào cờ. Nhìn hàng hàng lớp lớp thiếu nữ VN trong trang phục áo dài trằng, đỏ, xanh, vàng.., tay cầm cờ vàng ba sọc đỏ diễn hành qua các đường phố, hình ảnh quá đẹp, quá nên thơ, quá âu yếm, làm trong sáng cả lòng người. Người viết cũng xin đề nghị các Bà, các cô gái VN tại xứ người nên mặc chiếc áo dài VN trong những lần du ngoạn, những lần shopping để hình ảnh VN càng lúc càng trở nên quen thuộc với người nước ngồi, nổi bật vẻ đẹp VN trước cảnh sắc và lớp lớp đồng bào nước họ, để người Tây phương luôn thấy hình ảnh thanh tú, tha thướt dịu hiền về người đàn bà VN trong tâm trí họ.
3) Bao nhiêu phong tục, tập quán của nếp sống Việt
- Những tình cảm tốt đẹp của tâm hồn Việt Nam: cha mẹ, vợ chồng, con cái, họ hàng, thầy trị, bạn bè, thân hữu , dù cĩ chịu ảnh hưởng nếp sống Tây phương, vẫn được duy trì trong gia đình, ngồi xã hội. Người ngoại quốc –nhất là người phương Tây- tỏ ra mến phục những nề nếp hay đẹp nầy mà họ, vì cuộc sống cơ giới, đã phải đánh mất hoặc lảng quên (lòng hiếu thảo của con cái, nghĩa thủy chung của vợ chồng,…). Do ảnh hưởng văn hĩa phương Tây, tính phong kiến khe khắt trước đây trong nếp sống Việt Nam dần dần phai nhạt, bớt đi một số ’hủ tục’ để cách ứng xử trong gia đình, ngồi xã hội được cởi mở, thoải mái, tôn trọng tự do của nhau hơn. Tuy nhiên, cũng thật đáng tiếc, một số bạn trẻ VN, vì ảnh hưởng nếp sống tự do phóng túng của Tây phương đã phần nào quên đi truyền thống tốt đẹp nầy.
- Tình cảm đối với nước non, dân tộc càng sâu đậm, rộn ràng do nỗi buồn ly hương, xa cách với khung trời xứ sở thân yêu. Mối tình đối với thân nhân, bạn bè, với đồng bào đang rẫy rụa nơi quê nhà, luôn luôn ray rứt con tim. Số tiền gởi về giúp đỡ bà con ruột thịt hàng năm lên đến hàng tỷ mỹ kim. Số tiền quyên gĩp gởi về cứu trợ trẻ mồ côi, người tàn tật, tầng lớp thương phế binh vất vưởng nơi quốc nội, cả tầng lớp dân oan đang khiếu kiện, những chiến sĩ đấu tranh cho Dân chủ, nhân quyền, không ngớt được cổ động, được dồi dào do tình thân thuộc, do nghĩa đồng bào, do nghĩa tình với nước, với dân.
Cả những nạn nhân do tai họa thiên nhiên xảy ra trong nước cũng được số người tỵ nạn trợ giúp hết mình. Tuy biết rằng, số tiền cứu trợ nầy không đến với thân nhân, đồng bào khồn khổ bao nhiêu, phần lớn lọt vào túi tham nhũng của tầng lớp cán bộ Cọng sản để họ càng củng cố thếm chế độ độc tài đàn áp nhân dân nhưng người Việt tỵ nạn đành không thể không làm vì tình, vì nghĩa. (Xin không nĩi đến những trường hợp số người gian manh lợi dụng « lịng nhân đạo » của người Việt hải ngoại để trục lợi và làm lợi cho Cọng sản).
- Lòng yêu nước nồng nàn, lịng mong mỏi quê hương và đồng bào được sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc, thốt khỏi mọi áp bức bất công của chế độ bạo tàn nơi quốc nội trở thành lý tưởng đấu tranh càng lúc càng sôi nổi, mãnh liệt nơi lớp người tỵ nạn. Bao nhiêu tổ chức, bao nhiêu cuộc biểu tình rầm rộ, bao nhiêu vận động ngoại giao, chính trị trên trường quốc tế cũng như nơi đồng bào quốc nội đã đưa đến những thành tựu ngoạn mục khiến Cọng sản mất ăn, mất ngủ và tìm đủ mọi cách chống đỡ, phá hoại tinh thần chống Cọng của người quốc gia nơi hải ngoại. Hàng trăm ngàn người mỗi năm «hồi hương» (?) để «du lịch» Việt
- Tấm lòng nhớ ơn, truyền thống tốt đẹp nầy luôn luôn được gìn giữ, phát huy. Bao nhiêu kỳ đài, tượng đài được đồng bào tỵ nạn dựng lên khắp nơi vừa đề tưởng niệm bao lớp người vì tự do, dân chủ đã phải hy sinh, đã phải bị đày đọa, chết chóc trong cuộc chiến vừa qua, đồng thời để tưởng niệm hàng trăm ngàn người vượt biên đã phải bỏ mình nơi rừng sâu, biển cả. Người ngoại quốc hẳn cảm động và ngợi ca tấm lóng «nhớ ơn» cao quí đó qua những tượng đài kỷ niệm «chiến sĩ Việt Mỹ và đồng minh» trong cuộc chiến đấu cho tự do, dân chủ, qua những bài báo, thơ văn, những tiếp xúc và những lễ lạc tri ân lòng quảng đại tận tình đùm bọc, giúp đỡ cuộc sống xa nhà, mất nước của người Việt tỵ nạn Cọng sản. Qua những việc làm đó, Cộng đồng người Việt nơi hải ngoại đã thu hút được cảm tình của số đông người ngoại quốc, nhất là gia đình các cựu chiến binh Hoa Kỳ, để có thêm một thành phần quan trọng trong cuộc chiến đấu cho một Việt
- Những hội đồn « ái hữu»: ”Ái hữu đồng hương địa phương” (Kiến Hòa, Nha Trang, Cần Thơ, Quãng-Đà, Huế, QuãngNgãi,…) ; «Ái hữu trường học » (Quốc Học, Đồng Khánh, Phan Chu Trinh, Hồng Đưc, Nguyễn Hiền, Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm, Trưng Vương, Gia Long,. Võ Tánh,
- Trung thành với lịch sử. Người Việt hải ngoại luôn luôn nhớ ơn anh hùng hào kiệt đã dày công dựng nước và giữ nước cũng như những trang sử đau buồn của dân tộc. Những ngày lễ lịch sử «giỗ Tổ, Kỷ niệm Hai Bà, kỷ niệm Trần Hưng Đạo, Quan Trung, kỷ niệm Yên Bái, Kỷ niệm Nguyễn Du,… » ; những ngày kỷ niệm anh hùng, liệt sĩ địa phương ”Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Nguyễn Đình Chiểu, … » và nhất là ngày « 30 tháng Tư Bảy lăm », ngày dân tộc bị cưỡng bức phải « bại hàng, mất nước ». Tất cả những ngày kỷ niệm đó hàng năm được tổ chức, nói lên lòng nhớ ơn mà còn thể hiện bổn phận, nghĩa vụ tiếp nối công trình của cha ông, tiếp nối công trình đấu tranh bảo vệ dân tộc, phát huy truyền thống cao đẹp của giống nòi để cuộc đấu tranh chống Cọng sản, giải phóng nhân dân thốt vòng đảng trị độc tài, buôn dân bán nước của Cọng sản, ngày càng tích cực, ngày càng đạt được kết quả đáng kể.
3/- Ngôn ngữ Việt Nam luôn được bảo tồn - Bao nhiêu lớp, bao nhiêu trương dạy Tiếng Việt do các cộng đồng Việt Nam, các giáo hội tôn giáo, các đồn thể ái hữu, hướng đạo mở ra để dạy cho lớp trẻ sinh ra nơi nước ngồi, dù có phải nói, phải học tiếng nước người cũng không quên ngôn ngữ dân tộc. Các trước tác song ngữ (ngôn ngữ Việt và ngôn ngữ nước ngồi) qua báo chí, sách vở có tác dung giúp các lớp trẻ Việt sinh nơi xứ người làm quen với ngôn ngữ mẹ đẻ cùng ngôn ngữ dân tộc xứ người, đồng thời cũng giúp người ngoại quốc hiểu về văn hĩa Việt Nam. Những giải thưởng học sinh nói, đọc, viết tiếng Việt càng lúc càng phát triển. Thật vô cùng cảm động khi nhìn các em 5, 6, 10 tuổi nói lời chúc ông bà, cha mẹ, anh chị ngày đầu năm trong cuộc trình diễn đầu năm Kỷ Sửu nầy qua các hình ảnh trong các cuộc diễn hành ngày Tết tại Bolsa, San José,... Ước mong việc tổ chức dạy tiếng Việt được phát triển thêm mạnh mẽ nơi các nhà Chùa, nhà Thờ, các Hiệp hội, đồn thể,...
4/- Nền Văn học Việt Nam nơi hải ngoại càng lúc càng phong phú, càng đa dạng đủ mọi thể tài, đủ mọi hình thức từ nghiên cứu, biên khảo (nguồn gốc dân tộc, văn hĩa truyền thống, triết lý, tôn giáo, ngôn ngữ, chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật) đến văn thơ, hội họa, âm nhạc, điêu khắc, phim ảnh,…; từ báo chí đến truyền thanh, truyền hình, diễn đàn internet,…. Không một bộ môn văn học nghệ thuật nào thiếu vắng nơi sinh hoạt của người Việt hải ngoại.
Chỉ nói về số lượng không thôi, sự phát triển của dòng Văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại so ra không thua sút với trước đây nơi quê nhà Miền Nam Việt Nam và cả so sánh với Văn học quốc nội hiện nay dưới chế dộ Cọng sản với tỷ lệ chênh lệch về nhân số 3/85 (3 triệu người hải ngoại với 85 triệu người trong nước). Sống nơi xứ sở tự do, nền văn học Việt
Dòng Văn học Việt
Có thể nói, dòng Văn học Việt Nam hải ngoại nầy đã trở thành một sự thực không thể chối cãi, không thể phủ nhận nơi «Văn Học sử Việt Nam» sau nầy cũng như nơi «Văn học sử» của từng quốc gia, nhất là tại Hoa Kỳ vốn là một quốc gia ”đa văn hĩa” vì lịch sử Văn học từng nước có người Việt định cư không thể bỏ qua mọi trước tác của người Việt bằng tiếng Việt hay bằng ngôn ngữ của quốc gia đĩ đã làm giàu thêm nền văn học của họ với những sắc thái mới, hoặc khác lạ.
Một điểm cần để ý là chính nền Văn Học VN nơi hải ngoại đã giúp cho bao nhiêu trước tác mang tính nhân bản của các Văn Nghệ Sĩ trong nước, bị chế độ Cộng sản ngăn cấm, tịch thu, được in ấn, phổ biến để được người nước ngồi chiêm ngưỡng, thán phục và dội ngược trở lại về quốc nội.
C/-Thành tựu của người Việt
Bao nhiêu thành tựu về đủ mọi lãnh vực Kinh doanh, thương mãi, học thuật, khoa học, kỹ thuật,…đã khiến người ngoại quốc ngạc nhiên và khâm phục tính cần cụ, chịu khó, chăm học, chăm làm cùng tính khéo léo, lanh lợi và trí thông minh của người Việt Nam. Ngay cả nghề làm Nail đã trở thành ngĩn nghề kỹ thuật thẩm mỹ lôi cuốn khách ngoại quốc và là một loại «kinh doanh» đã làm giàu một số người trước đây vốn ít học hay vốn thuộc thành phần không mấy gì tên tuổi nơi quốc nội. Một số người cao niên, mặc dù có buồn đau vì cảnh tha hương, có lao đao vì mưu sinh, kiếm sống, cũng dốc chí đeo đuổi việc học, tốt nghiệp đại học về đủ mọi ngành nghề. Nhất là lớp trẻ. Hàng trăm ngàn thanh niên, thiếu nữ đã thành đạt mau chóng về mọi bộ môn khoa học tự nhiên và nhân văn, nhiều lúc trội vượt hẳn so với một số người ngoại quốc.
Không người VN nào, nhất là người Việt nơi hải ngoại, không mừng vui, tự hào về một Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh cùng bao tài năng đang phục vụ tại cơ quan NASA Hoa Kỳ, bao bậc Tiến sĩ, Thạc sĩ, Kỹ sư, Bác sĩ, Giáo sư, Luật sư,...trẻ trung tại các nước với bao cấp bằng ngợi khen, đảm nhận những chức vụ cao trong xã hội nước người, trong đó giới phụ nữ cũng khá đông, những phi công tuyệt vời như cô Elizabeth Phạm, những quân nhân xuất sắc, những sĩ quan cao cấp như Đại Tá Lương Xuân Việt, bao nhiêu người đắc cử vào các chức vụ dân cừ thành phố, quận hạt, tiểu bang (Trần Thái Văn, Janet Nguyễn,...), liên bang (dân biểu Joseph Cao) ở Hoa Kỳ, Đức, Úc, Canada,.. ( đặc biệt cô Trương Nguyệt Ánh, một giáo viên mẫu giáo đã trở thành Nghi viên thành phố Wanneroo ở miền Tây Úc và Plilipp Rosler 35 tuổi được Quốc Hội Tiểu bang Niederechsen bầu vào chức vụ Bộ Trưởng Kinh tế, một trong 3 vị Bộ Trưởng trẻ nhất nước Đức).
Bao nhiêu thành đạt về các bộ môn khác như võ sĩ Lê Trung, như cô (người viết không nhớ tên) đã đoạt được mề-đay vàng đầu tiên cho Gia-Nã-Đại trong Thể Vận Hội Bắc Kinh. Bao nhiêu tài năng nhỏ tuổi về âm nhạc (Bùi David Quang Thọ, sinh năm 1992 về dương cầm, Maria Hồng 5 tuổi độc tấu vĩ cầm ở Đức, Tuấn Khanh, độc tấu và hồ tấu dương cầm, phong cầ̀m ở Na Uy,...), và nhiều tài năng trẻ khác, người viết không nhớ hết. Biết bao học sinh, Sinh viên xuất sắc tại các trường Tiểu học, Trung học, Đại học.
Số người trẻ thành đạt nầy là vốn liếng, tài sản, chất xám vô cùng quí báu cho tương lai nước Việt đề sánh cùng thế giới năm châu hịa nhịp trong diễn trình tiến hóa chung của nhân loại.
Nay mai, khi giải thể xong chế độ Cọng sản nơi quốc nội, hàng trăm ngàn số trẻ đã thành đạt nầy sẽ trở về quê hương cùng trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên và đồng bào cả nước cùng đem hùng tâm, tráng chí và khả năng xây dựng đất nước sáng sủa, tươi vui, văn minh, tiến bộ như bao quốc gia tiền tiến.
Với vốn liếng văn hóa Việt Nam sẵn có, với vốn liếng văn hĩa thu thập và tích lũy nơi tất cả các quốc gia Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hòa Lan, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điễn, Ba Lan, Phần Lan, Nga, Tiệp Khắc, Úc, Nhật, Gia Nã Đại, …. cùng nơi bao quốc gia khác, số người Việt nay mai về nước cùng đồng bào trong nước làm vẻ vang giống nịi. Đấy là « cuộc hội ngộ của địa cầu» (le rendez-vous des continents) do chính người Việt
D/- Lá cờ Quốc gia nền Vàng ba sọc đỏ:
Một kỳ tích tuyệt hảo của người Việt hải ngoại là đã làm «sống» lại lá cờ Tổ Quốc thân yêu. Lá cờ «nền vàng ba sọc đỏ», sau ngày 30/04/75, sau cảnh tức tưởi phải nhận lãnh cảnh «bại hàng» để phải «mất nước», để xâm lăng Cọng sản phủ trùm tai họa lên cả nước; lá cờ bị «dẹp bỏ», bị «xóa» đi, không còn được thế giới công nhận vì không cịn giá trị pháp lý, thế mà lại «sống» lại hùng tráng, hiên ngang trong lúc «lá cờ Cọng sản» có tư cách pháp lý quốc tế hẳn hoi lại như «biệt tích, biệt tăm» nơi những vùng có người Việt tỵ nạn Cọng sản cư ngụ.
Lá cờ «nền vàng ba sọc đỏ» với nền màu vàng, màu tượng trưng cho vương quyền ngày trước, tượng trưng cho «quốc quyền» ngày nay nơi người Việt, lá cờ đã có từ thưở lập quốc xa xưa, lá cờ đã có trước ngày chế độ Cọng sản cướp nắm quyền bính quốc gia, lá cờ mang ý nghĩa chiến đấu cho Dân chủ, Tự do, cho Quyền Người; lá cờ đó tưởng đã vĩnh viễn «chết», thế mà lại được hồi sinh uy nghiêm, tôn kính tại những phần đất nước ngồi do đấu tranh kiên trì, quyết tâm của người Việt tỵ nạn Cọng sản.
Lá cờ Cọng sản chỉ là lá cờ riêng của Đảng Cọng sản, mới có từ ngày Đảng Cọng sản cướp quyền rồi áp đặt chứ không do toàn dân công nhận là biểu tượng quốc gia. Lá cờ quốc gia nền vàng ba sọc đỏ đó phấp phới uy nghi trên hầu khắp mọi miền nước Mỹ, được chính các chính quyền Thành phố, Quận hạt và các Tiểu bang Hoa Kỳ công nhận bằng nghị quyết, bằng văn bản, không những nơi các Cộng đồng người Việt mà cả nơi các trường học, các công sở Hoa Kỳ vào những ngày lễ ngày hội có Cộng đồng người Việt hải ngoại tham dự dù Cọng sản luôn luôn vận động nhà cầm quyền Hoa Kỳ dẹp bỏ. Lá cờ quốc gia VN nền vàng ba sọc đỏ, tại một số quốc gia khác, tuy không được nhìn nhận công khai qua một văn kiện chính thức nào nhưng cũng đã mặc nhiên được Chính Phủ và nhân dân các nước đó không ngăn cấm người Việt tỵ nạn CS được dùng, được treo, được sử dụng trong các sinh hoạt của người Việt Nam nơi hải ngoại.
Trong lúc đó, lá cờ Cọng sản có cơ sở pháp lý trên trường ngoại giao và bang giao quốc tế lại không thể ra ngoài vòng rào các Tịa Đại sứ và Tổng Lãnh sự của ho. Không những thế, lá cờ «nền vàng ba sọc đỏ» lại còn hàng hàng lớp lớp diễn hành rầm rộ, uy nghi, dũng mãnh khắp mọi đường một số nước trong các ngày Lễ Hội Việt Nam, nhất là trong các cuộc biểu dương ý chí chống độc tài, áp bức của chế độ Cọng sản, để «giàn chào » các nhân vật, các phái đoàn Cọng sản đến Hoa Kỳ hay một nước nào. Lá cờ đĩ hầu như đang có thêm cơ hội được công nhận để có mặt khắp nơi trên toàn nước Mỹ và có thể cả nhiều quốc gia khác.
Lá cờ quốc gia «nền vàng ba sọc đỏ» đó cũng đã được cắm trên đỉnh Thái Sơn (Everest) và được trương lên nơi thành Baghdad do một chiến sĩ Mỹ gốc Việt trong quân đội Hoa Kỳ. Trong lịch sử thế giới, có trường hợp nào như thế không? Lá cờ Quốc gia nền Vàng ba sọc đỏ đã hiên ngang rực sáng trên nền trời Úc Châu trong ngày Đại hội giới trẻ Công giáo toàn cầu, đã được đương kim Giáo Hồng choàng qua hai vai, trong những lần biểu tình hạ cờ máu CS, trong những lần diễn hành ngày Quốc Tế Nhân Quyền, những ngày Tết, đã khiến lá cờ máu CS không thể chường mặt, đã khiến bao nhân vật cấp cao CS qua xứ người phải luồn chui cửa hậu.
Nhìn lá cờ Quốc gia phấp phới nơi hàng hàng lớp lớp đồng bào già, trẻ, lớn, bé; nhìn những đại kỳ nền Vàng ba sọc đỏ được các Thanh niên nam nữ giăng cao qua đường phố một số nước, đẹp làm sao khiến người viết ngập tràn phấn khởi, tươi vui, sống lại thời gian chiến đấu oai hùng chống Cộng sản xâm lăng của toàn quân, tồn dân miền Nam trước đây. Ước mong lá cờ Quốc gia nền vàng ba sọc đỏ càng lúc càng được các Tiểu bang và các quốc gia khác nhìn nhận để ”Quôc Gia Văn Hóa Việt Nam nơi hải ngoại” luôn luôn hiện diện trước mắt và trong tâm trí mọi người nơi các xứ người.
Qua những sự việc nêu trên – có thể thêm nhiều sự việc khác mà người viết không nhớ hết hoặc chưa đủ dữ kiện - cái «Quốc gia văn hóa Việt Nam hải ngoại» đã trở thành một thực thể không thể nào phủ nhận bỡi lịch sử dù lịch sử Việt Nam hay lịch sử thế giới. Văn hóa Việt Nam, nếu trước đây chỉ là đề tài nghiên cứu, tìm hiểu của một số thức giả ngoại quốc thì nay, do xã hội người Việt Nam tỵ nạn Cọng sản, nhân dân các nước đã trực tiếp tiếp cận để quen thuộc, gần gũi, tiếp xúc và phẩm bình, đánh giá mọi mặt tốt xấu, hay dở của truyền thống Việt Nam, của nếp sống Việt Nam.
Cái « Quốc gia Văn hóa Việt
* Bây giờ: «Quốc gia Văn hóa Việt Nam hải ngoại» là lực lượng đối trọng với chế độ Cọng sản nơi quốc nội hiện nay để buộc Đảng và Nhà nước Cọng sản phải xoay chiều đổi hướng, phải tự giải thể theo cách nào đó, để họ không phải phạm thêm tội lỗi trước nhân dân và trước tòa án lịch sử, để họ thực sự trở về với Dân tộc. Nó - cái «Quốc gia Văn hóa Việt
Ngoài ra, «Quốc gia Văn hóa Việt
* Mai sau : «Quốc gia Văn hoa Việt Nam hải ngoại » do các thế hệ hậu duệ của người Việt tỵ nan tiếp nối sẽ luôn là lực lượng đối trọng với các thể chế chính trị xã hội trong nước sau khi lật đổ chế độ CS, một khi các thể chế nầy trở nên mị dân, giả hình trong tay những tập đoàn, những đảng phái, những lớp người chỉ nghĩ đến mưu cầu lợi nhuận riêng tư, làm tay sai cho ngoại bang mà bóc lột nhân dân, xéo dày đất nước.
Hãy dốc tâm gìn giữ, nuôi dưỡng và phát triển «Quốc gia Văn hóa Việt Nam hải ngoại» để góp phẩn giữ nước và dựng nước mãi mãi tốt đẹp, đồng hành cùng thế giới trong sứ mạng và khuynh hướng «nhân bản hóa» con người và xã hội. Dù chúng ta có là người “hai quốc tịch” thì mỗi người Việt Nam trong danh xưng hợp pháp «tỵ nạn chính trị Cọng sản» đương thời hay còn mang ấn tích mai nầy, vẫn luôn luôn là «Chim xứ người mà giọng hót Việt Nam”» (phỏng theo lời thơ Mạc Phương Đình: Chim xứ người sao giọng hĩt Việt Nam).
“Quôc Gia Văn Hóa Việt Nam hải ngoại”, một quốc gia không biên cương, không lãnh địa, không Chính phủ, không quân đội, không nền hành chánh, pháp lý, không tài nguyên, không nền kinh tế, kỹ nghệ, không cả hệ thống giáo dục, một Quốc gia cuả tình người, được nuôi dưỡng và phát triển bởi ’hồn nước’, bởi truyền thống, một ”Quốc gia Văn hóa” nhưng lại mạnh mẽ, kiêu hùng khiến người ngoại quốc nể nang, khen ngợi, khiến người Cộng sản bán nước, buôn dân lo sợ, kinh hoàng. Sức mạnh của Văn hóa nhiều khi vượt trên ̉ mọi sức mạnh khác, tạo ý nghĩa, giá trị cho cuộc sống con người, cho trường tồn vinh quang của dân tộc.
Khi rời nước ra đi, chúng ta mất tất cả: của cải, tiền nong, nhà cửa, cả mồ mả ông bà cha mẹ; mất đất nước quê hương, mất khung trời và bầu không khí VN thân thương, quen thuộc. Chúng ta còn lại gì nếu không là cái “Hồn nước”, cái “truyên thống Văn hóa dân tộc” qua quá trình lịch sử đã in sâu nơi tâm trí. Chúng ta không thể quên. Vậy, hãy gìn giữ, bảo tồn, phát huy để “ta còn là ta”, để ta còn đóng góp cho sự trường tồn và vinh quang của dân tộc vừa nơi xứ người, vừa cho quê cha đất tổ có điều kiện tiến lên, sánh vai cùng thế giới.
Nguyễn Thùy
