Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Nguyễn Văn Lục

 

Đọc và nhận định “Cuộc Xâm Lăng Về Văn Hóa Và Tư Tưởng

của Đế Quốc Mỹ...” (I)

 

Sách lược của miền Bắc là muốn tiêu diệt và xóa trắng toàn bộ Văn Học miền Nam vì nó biểu hiện một thứ văn hóa “phản động” so với nền Văn Học XHCN. Cho nên ngay trước khi chiếm được miền Nam thì trên các tạp chí miền Bắc như Học Tập, tạp chí Văn Học, Văn Nghệ, v.v... đã có hơn 200 bài viết theo chính sách này. Đó là những chuyện trước 1975.

 

Nhưng đến sau 1975, chiến dịch “truy lùng tàn dư văn hóa Mỹ ngụy” càng trở nên ác liệt như Lê Duẩn trong Đại Hội 5 đã chỉ thị:  “Sau ngày giải phóng, nhân dân ta đã làm rất nhiều việc nhằm quét sạch những dấu vết và di hại của thứ văn hóa ấy. Công việc này cần được tiếp tục một cách kiên trì, tích cực và triệt để.”

 

Ngày 26/06/1976, ban Chấp HànhTrung Ương Đảng ra thêm chỉ thị: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ văn hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động.”

[Trích Văn Hóa, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975, Trần Trọng Đăng Đàn, trang 779, nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 2000].

 

Họ đã nhìn với định kiến về Văn học miền Nam như thế này: Nô dịch, lai căng, đồi trụy và cực kỳ phản động..

 

Đội ngũ những người có trách nhiệm xóa bỏ tàn dư văn hóa “ngụy” gồm có: Thạch Phương, Trần Hữu Tá, Phan Đắc Lập, Trần Văn Giàu, Trần Trọng Đăng Đàn và đặc biệt có Lữ Phương. Phụ họa thêm vào đây, có những nhà Văn như Bảo Ninh, trong truyện ngắn Rửa Tay Gác Kiếm đã khinh miệt văn học miền Nam bằng thứ ngôn ngữ không phải nhà văn như sau:

“Chỉ có mỗi mình Tú, một tay mọt sách, nguyên sinh viên trường Tổng Hợp là không ngại rúc vào đó, ngụp lặn lục tìm trong bụi, tha về phòng một bao tải nặng chịch những cuốn tiểu thuyết chưa bị mối xông. Nhưng bởi tất cả đều rặt một nòi thối tha mục nát văn chương chống cộng, chữ nghĩa tối tăm mờ ám, nội dung láo toét, ít ai kiên nhẫn đọc nổi quá nửa trang, chất giấy lại không hợp để vấn thuốc và khổ thì quá nhỏ để gói bọc một thứ gì, thành thử đống sách của Tú chẳng mấi ai buồn ngó, dù rằng nó cứ vơi đi.

 

Người ta thấy các mẩu vụn của những Chu Tử, những Xuân Vũ, những gì gì đó nữa quanh chỗ đựng điếu cày và trong nhà bếp, trong nhà cầu.”

[Trích Hà Nội lúc không giờ, Bảo Ninh, trang 83, nxb Văn Hóa Thông Tin, 2002]

 

Cuốn sách của Bảo Ninh in năm 2002, sau gần 30 năm mà còn có thứ ngôn ngữ thiếu Văn hóa như thế của một nhà văn khá nổi tiếng với tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh.

Đọc thấy thật mất dạy quá.

 

Sự đố kỵ và khinh miệt văn học miền Nam là có thật do thiếu hiểu biết. Nhưng dần dần do có cơ hội tiếp cận và tìm hiểu, nhiều nhà văn miền Bắc hiểu rằng văn học miền Nam nó có chỗ đứng riêng của nó, có những giá trị không thể phủ nhận. Đó là công việc đáng ghi nhớ của trang Talawas đã giới thiệu và in lại những tác phẩm Văn Học miền Nam trước 1975.

 

Và cũng kể từ sau 1975, số phận sách vở miền Nam giống như số phận Người miền Nam vậy. Sách vở miền Nam cũng phải trốn nhui, trốn nhủi mà giá trị lúc này chỉ là những cân giấy vụn dùng để gói hàng.

 

Lời trần tình Của Lữ Phương về Vai trò “đọc và phân loại sách” sau 1975.

Trong bài viết Nói thêm một lần để không nói nữa, Lữ Phương cho biết ông được đảng giao phó cho bộ phận “đọc và phân loại sách” xuất bản ở miền Nam trước ngày 30-4-1975. Lữ Phương viết:

 

 

Lữ Phương

Nguồn: viet-studies.info/LuPhuong.htm

 

“Công việc tôi đảm nhận chỉ là một phần trong sự khởi đầu của một chính sách cải tạo xã hội theo đường lối cộng sản. Đó là kết quả tất yếu của một quan niệm chiến thắng về một cuộc chiến tranh. (...)  Vì lý do đó, tôi thấy chẳng cần gì phải chối bỏ rằng tôi làm công việc “phân loại sách” nói trên là do sự phân công của Đảng Cộng Sản mà lúc bấy giờ tôi vẫn còn tin tưởng. Nhưng một mặt khác, trên phương diện cá nhân, tôi có thể khẳng định công việc mà tôi đảm nhận đó hoàn toàn không phải là một thứ “chính sách khủng bố mang tính chất nhà nước với trí thức, văn nghệ sĩ miền Nam sau 75” và tôi đã đấu tranh quyết liệt với những đồng chí của tôi vào lúc bấy giờ để đòi thực hiện- là phải phân biệt rạch ròi những kẻ chủ mưu với những nạn nhân (...) để tránh dựa vào những tiêu chuẩn mơ hồ như khẩu hiệu hành động gọi là (bài trừ văn hóa phản động đồi trụy) có thể dẫn dẫn đến những lạm dụng khi xử lý trong thời ký tiếp quản, lộn xộn, rối ren.”

 

“Tôi còn đấu tranh cho chủ trương này ngay từ khi tôi ra miền Bắc trị bệnh (từ tháng 4/1974) trong một cuộc họp chung do Nguyễn Hữu Thọ chủ trì để góp ý “Chương trình hành động 10 điểm của CPCMLTCHMNVN” lúc tình hình chiến sự đã lan tới Huế, vì đó là Sinh mệnh của cả một nền văn học. Tức khắc đề nghị ấy bị gạt đi, nhường cho sự giơ tay “nhất trí” của hội nghị để sau đó mấy hôm, qua chị Dương Quỳnh Hoa, tôi mới biết được rằng cuộc họp ấy chỉ là hình thức, cái gọi là chương trình 10 điểm đó Bộ chính trị đã duyệt và gửi đến các đài phát thanh để chuẩn bị phát tối hôm đó rồi! Có thể tôi ngây thơ về chính trị nhưng với tư cách là một “thứ trưởng” trong chính phủ Cách Mạng ở miền Nam, tôi vẫn cho rằng việc xử sự của mình đã mang được một ý nghĩa nhân cách, ít nhất không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn với vai trò “chậu kiểng” được giao cho.

 

Khi về Nam, trong một buổi họp của Thành Ủy TP Hồ Chí Minh bàn về “bài trừ văn hóa phản động đồi trụy,” (do ông Võ Văn Kiệt chủ trì) và trong khi trình bày tôi đã phản đối ý kiến của đại diện Ban Tuyên Huấn Thành Ủy lúc bấy giờ cho rằng không cần phân loại cho rắc rối ..

 

Tôi đã thuyết trình và chia sách đọc ra làm 5 loại trong đó tập trung chú ý loại A có “nội dung chống Cộng” trực tiếp và loại B “Kích dâm”, còn tất cả những loại khác như C, “tinh thần lãng mạn hoặc ủy mị tiêu cực”, D “phê phán hiện thực có nội dung dân chủ nhân đạo” và E, các loại sách khoa học kỹ Thuật tôn giáo... thì không được đụng tới.

 

Tất cả những gì tôi góp phần vào cái gọi là chính sách cải tạo văn hóa ở miền Nam sau 30 tháng tư, 75 chỉ có vậy, và chỉ có như vậy mà thôi”

[rích trong Nói thêm một lần để không nói nữa, http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_NoiThemMotLanNua.htm, truy cập 01/2010)]

 

 

Nhận xét về lơi trần tình của Lữ Phương

 

Nếu người nào chưa có dịp đọc trực tiếp cuốn sách của Lữ Phương thì rất có thể sẽ tin vào những điều trần tình của Lữ Phương và xếp ông vào loại “trí thức cộng sản có nhân cách, ít ra không phải loại văn nô ngoan ngoãn, cũng không phải loại “chậu kiểng.”

 

Nhưng nếu đã đọc sách của ông rồi thì cảm tưởng trên không còn nữa và dám xếp ông vào loại “biệt kích văn hóa”, có tính cách “khủng bố mang tính chất nhà nước với trí thức, nhà văn”. 

 

Lữ Phương viết với giọng gay gắt, truy chụp, kết án là có thật. Tính chất khủng bố cũng là có thật. Tôi có cảm tưởng như giọng văn quy chụp các nhà văn trong Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm thập niên 1950 vậy.

 

Cho nên phải đọc chính cuốn sách của ông thay vì những lời trần tình. Rất tiếc ông chưa chịu phổ biến sách của ông cho người đọc coi. Chính bản thân người viết để 3 năm trời, biết bao công khó mới kiếm được cuốn sách. Nhưng bưu điện nhà nước cộng sản thu tiền cước phí xong thì vứt luôn cuốn sách vào tháng 5, 2009. Nhưng may mắn, liên lạc được với người bạn đã chịu khó scan từng trang giấy gởi sang cho người viết bài này. Xin nhận một lời cám ơn anh.

 

Rất nhiều người viết phê bình ở miền Bắc có thể chưa bao giờ có dịp đọc một tác phẩm văn học nào ở miền Nam, nhưng do hơn 200 bài báo do các tạp chí ở trên cứ ra rả tuôn ra nào là dâm ô đồi trụy, nào nọc độc, nào là âm mưu, nào là cực kỳ phản động... Riết rồi sự tuyên truyền trở thành một “sự thật” không chối cãi được.

 

Sự phê phán quy chụp Văn học miền Nam của người cộng sản miền Bắc còn có thể hiểu được. Nhưng Lữ Phương, từng lớn lên và trưởng thành ở miền Nam, từng là một nhà giáo dạy Việt Văn ở Long Xuyên, từng tự hào đọc sách vở viết bằng tiếng Tây lúc thiếu thời với những tác giả tên tuổi như Henri Lefèvre, Merleau Ponty, Roger Garaudy và nhất là J.P. Sartre.

 

Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây là với tuổi đời của một thanh niên chưa qua hết ngường của trung học, không hiểu bằng cách nào Lữ Phương có thể có được cuốn Critique de la raison dialectique, xuất bản năm 1960 mà theo tôi được biết thư viện Văn khoa Sài Gòn có thể không có, hoặc có sau này, chỉ có thư viện Đại Học Đà Lạt có được. Đấy là nói về phần tài liệu không dễ để có được cuốn sách đó. Còn nói về việc đọc, nếu người nào đã học Triết học, theo chương trình Pháp đi nữa, ngay cả các giáo sư đại học Văn khoa, Sài Gòn, có đi du học Pháp, có học vị tiến sĩ, tôi dám chắc có đọc và cũng không dễ gì hiểu nổi cuốn sách đó của J.P. Sartre.

 

Đấy là nhận xét của người trong nghề.

 

Không biết bằng cách nào Lữ Phương đã đọc cả Merleau Ponty với đủ các loại triết gia thượng thặng ở trên ở thời diểm 1960?

 

Trong khi sách tiếng Việt, trừ các sách của Trương Tửu và Nguyễn Bách Khoa in ở ngoài Bắc không dễ có viết về Mác Xít mà chưa có hệ thống thì cuốn sách mỏng, dày 161 trang: Tìm Hiểu Triết Học của Karl Marx của Trần Văn Toàn, do Nam Sơn in, ngày 28 tháng 3 năm 1965. Và tiếp nối ngay theo đó là cuốn Xã Hội Và con người, Trần Văn Toàn in ngày 2 tháng 10 năm 1965.

 

Cả hai cuốn sách đạt thành công ngoài ý muốn của nhà xuất bản Nam Sơn.

Phong trào tìm hiểu triết học Karl Marx trong giới sinh viên rộ lên sau hai cuốn này.

 

Ta hãy nghe Lữ Phương viết:

Với tôi đọc, đọc tuyển tập của Marx cùng lượt với với tuyển tập của Mao Trạch Đông (cả hai đều mua được ở nhà sách Việt Bằng cùng với bộ Đất Vỡ Hoang bằng tiếng Pháp của Solokhov ở Liên Xô.) cũng không khác gì đọc Trương Tửu, Nguyễn Bách Khoa một lượt với Trần Văn Toàn!

(Trích Những chuyến ra đi, Lữ Phương, trang 10, trên Viet-studies)

 

Xin thú thực, tôi cũng có một bô tuyển tập Mao Trạch Đông, bằng Anh Ngữ, gồm 5 tập, dày gần 3000 trang, in năm 1975 kể đã là mới lắm rồi. Sách mua chỉ để ngó chưa đọc.

Vậy mà khoảng 1960 và sau đó, Lữ Phương đã đọc cả! Xin bái phục một thiên tài triết học của Cộng sản Việt Nam.)

 

Trở lại phần trần tình ở trên, tôi có cảm tưởng phần lý luận trong đoạn văn trên là một thứ lý luận “cù nhày”, “nói lấy được”, bất chấp tri thức luận. Tại sao coi việc quét sạch văn học miền Nam là một kết quả tất yếu sau cuộc chiến tranh? Tại sao có thể kết luận một cách máy móc như thế? Đó là thứ ngụy biện cho một tội ác phạm đến lịch sử Văn Học. Điều mà ngay trong 100 năm Việt Nam là thuộc địa, người Pháp cũng không bao giờ làm như vậy.

 

Mặt khác, ông lại tự mâu thuẫn với chính mình, bày tỏ sự lo âu về sinh mệnh một nền văn học có nguy cơ bị hủy diệt! Nhưng thực tế ông đã làm được gì? Nội cái đề tài cuốn sách của ông cho thấy ý đồ muốn kết án toàn bộ cái nền văn học ấy dựa vào chính sách của Mỹ. Phải nói thẳng ở đây một lần để không cần nói nữa, chính sách về văn Văn hóa, giáo dục của Mỹ đa phần đem lại cái lợi cho miền Nam hơn là cái hại. Hại thì ít, lợi thì nhiều. Lợi thấy trước mắt, thấy hiển nhiên so với sự nghèo nàn và lạc hậu miền Bắc.

 

Làm sao thuyết phục dân miền Nam là đế quốc Mỹ đến xâm lược về văn hóa và tư tưởng?

 

Một người có trình độ học vấn Trung Học ở miền Nam khi đọc nhan đề cuốn sách cũng có thể nhận thấy tính cách tuyên truyền đao to, búa lớn. Người đọc làu làu J.P. Sartre mà không học được một chút lối viết tế vi, cực kỳ nhạy bén, uyển chuyển và tinh xảo của bậc thày đó sao?

 

Vì thế thay vì gọi là Cuộc xâm lăng Văn Hóa và Tư Tưởng của đế quốc Mỹ, người ta có thể viết: “Sự du nhập và ảnh hưởng của văn hóa Mỹ ở Việt Nam”. Trần Trong Đăng Đàn đã có nhan đề cuốn sách tương đối nhẹ nhàng: “Văn Hóa Văn Nghệ miền Nam 1954-1975”. Viết như vậy vừa đầy đủ và khách quan dễ được chấp nhận.

 

Đề tài viết nổ ấy do có ý đồ đen tối, não trạng cứng nhắc với những cụm từ chữ nghĩa đặc sệt giọng tuyên truyền rẻ tiền như đã có sẵn trong đầu rồi. Ông viết hung hăng như người lên đồng, đánh phá tứ tung, nhìn đâu cũng thấy âm mưu thâm độc của đế quốc thực dân mới, đế quốc Mỹ.

 

Nó nhất định không thuộc loại sách nghiên cứu nghiêm chỉnh, nó là sách tuyên truyền rẻ tiền thiếu dẫn chứng, thiếu lập luận nghiêm chỉnh. Rõ ràng là viết theo lệnh Đảng.

 

Đó là cái vài cảm tưởng đến với tôi sau khi cố đọc xong cuốn sách với một thất vọng không ít. Người ta có thể can đảm cầm bút viết những điều mà đáng lẽ nên dành cho hạng “văn nô” cầm bút? Người ta có cảm tưởng đằng sau Lữ Phương là bóng ma Cộng Sản thổi chữ nghĩa vào một động vật bung xung có mục đích tận diệt văn hóa miền Nam. Nó chẳng khác gì vai trò Hoàng Phủ NgọcTường trong dịp Tết Mậu Thân 68.

 

Một kẻ được giao phó làm vật bung xung để tận diệt văn học miền Nam và một kẻ được dùng trong kế hoạch “người Huế giết Huế.” Mặc dầu Lữ Phương có thể không đủ can đảm đốt một cuốn sách của miền Nam và Hoàng Phủ Ngọc Tường có thể chưa bao giờ cầm súng lục giết một người Huế và cũng có thể chưa thực sự ngồi ghế phán quan xử án người dân Huế. Nhưng cả hai đã đóng trọn vẹn vai trò bung xung, bù nhìn cho chế độ mà chưa hề dược Đảng có một lần đãi ngộ hoặc một lần lên tiếng bênh vực.

 

Lữ Phương không ngây thơ chính trị như ông viết. Ông nhận thức rõ vai trò “bù nhìn” từ lúc làm bộ trưởng Văn Hóa của ông. Từ năm 1968, vào bưng ông làm gì? Ông chẳng làm gì cả. Thà cứ nói thẳng như Lê Văn Hảo hay Trương Như Tảng là chúng tôi chỉ là thứ bù nhìn có thể dễ được chấp nhận hơn.

 

Chẳng làm gì cả mà có danh xưng, có tước vị, lúc nào có dịp thì phô cái chức vị đó ra, trong khi mọi quyết định từ ngoài kia thì không còn là bù nhìn thì là cái gì? Từ 1968 đến 1974, ông ngồi ngáp ruồi nhận xét một cách chán ngán các nhân vật chính trị chung quanh ông:

 

“Lưu Hữu Phước hiền lành, chỉ phát biểu những gì đúng phép một cách quá nhạt nhẽo, tầm thường. Ngoan ngoãn một cách nhiệt tình, không khác gì kiểu người của Huỳnh Tấn Phát, nhưng khiêm tốn và ít tham vọng hơn về chính trị.”

 

Phần ông, “Không có việc gì để làm, cơ quan đề nghị tôi làm việc với bộ phận nghiên cứu tổng hợp, theo dõi tình hình văn nghệ “đô thị” vùng địch do Trương Bình Tòng phụ trách.”

 

Ông thuyết trình về chủ thuyết Hiện Sinh, từ đó đặt ra công tác tư tưởng là phải làm sao gột rửa cho được những tác hại của chủ nghĩa Hiện sinh mà chế độ “Mỹ ngụy” ở Sài Gòn đã đầu độc thanh niên từ bấy lâu nay.  “Cuộc thảo luận tiếp diễn cứ theo cái đà ấy cho đến khi giải tán làm cho tôi ngán ngẩm tột độ và không muốn nói gì thêm. (...)  Trong chỗ sâu thẳm nhất của bản thân tôi, tôi dần dần hiểu ra thật rõ ràng, “ở nơi đây”, sự hiện diện của tôi có phần không khác gì mấy với sự hiện diện của một người “ khách” trên những đường giây giao liên” [Trích bản thảo Những chuyến ra đi.Viet Nam 2008, Lữ Phương, Viêt-sudies.info]

 

Đọc đoạn văn trên, tôi buồn cười rớt nước mắt, anh nào cũng là bù nhìn mà anh nọ chê anh kia. Tất cả đều là bù nhìn nhận ra bù nhìn mà không anh nào tiện nói thẳng ra.

 

Mỹ-Ngụy đã dùng triết lý Hiện sinh để đầu độc thanh niên miền Nam! Ô la la! Đó là một nhận xét hoàn toàn thiển cận nếu không nói là ngu xuẩn. Nhưng nhờ đọc các phần Hồi Ký và Trần Tình của ông, người đọc cũng hiểu được một phần tâm sự của ông. Một tâm sự khó nói của một kẻ lỡ làng, phóng lao phải theo lao. Qua đó, người ta hiểu được phần nào con người thật của ông lộ diện ra một chút. Nhưng khi ông viết cuốn sách “Cuộc Xâm lăng Về Văn Hóa Và Tư Tưởng của đế quốc Mỹ tại Việt Nam”, ông là một Lữ Phương khác, Lữ Phương, người của Đảng.

 

Hình như có hai Lữ Phương. Lữ Phương của một con người và Lữ Phương, một kẻ đã bán mình cho Đảng. Hai con người ấy đôi lúc xâu xé trong ông, mâu thuẫn có, buồn chán có, bất lực có. Nhưng bản tính ương ngạnh, ông không chịu nhìn nhận những sai lầm do công việc ông làm.

 

Ông lại hiện nguyên hình là một đảng viên cộng sản. Ông dùng tài liệu CIA nhặt đó đây về chính sách của nó trên toàn thế giới để áp dụng vào trường hợp Việt Nam. Đối với ông CIA là xấu nên bất cứ hoạt động CIA nào cũng trở thành âm mưu thâm độc, lũng đoạn và sa đọa hóa miền Nam.

 

Cuốn sách mất tất cả giá trị khả tín và điểm chính yếu là người đọc không tin vào những điều ông viết. Và có thể nói một cách cay đắng là trong số tất cả những người cầm bút có nhiệm vụ truy diệt văn học miền Nam, ông cho tôi có cảm tưởng ông là cây viết “hung hãn” nhất mà ngay cả Trần Trọng Đăng Đàn, cán bộ giảng dạy miền Bắc cũng còn thua ông một bậc.

 

 

Vai Trò CIA trong cuộc xâm lăng về Văn Hóa và Tư Tưởng của Đế Quốc Mỹ tại miền Nam

CIA như là mấu chốt luận điểm, một thứ bực phóng để từ đó Lữ Phương phóng chiếu vào hoàn cảnh văn học miền Nam. Nhưng nên nhớ rằng, trước khi có sự hiện diện của Mỹ và CIA thì miền Nam đã nếm trải đủ kinh nghiệm xương máu về sự hiện diện của người Pháp.  Khi người Pháp chiếm đóng được Nam Kỳ thì họ cũng nghĩ đến một chính sách văn hóa nhằm tiến tới sự đồng hóa hay ít ra có sự thỏa hiệp của người bản xứ.

 

Đó là một thực tế phải nhìn nhận. Kẻ đi xâm lược đã biết xử dụng chính sách quân sự, dùng võ lực để chiếm đóng một nước. Nhưng khi chiếm đóng được rồi thì phải nghĩ tới những giải pháp xã hội, văn hóa, mở mang dân trí cho người bị trị để mua chuộc, để có tay sai. Đó là chính sách cây gậy và củ cà rốt, vừa dùng vũ lực và vừa chiêu dụ. Hay nói theo ngôn ngữ bây giờ là ứng dụng sức mạnh cứng điều hợp với sức mạnh mềm sao cho đạt kết quả để tạo được sự ổn định.

 

Xin trích dẫn một bá cáo của người Pháp lúc bấy giờ để làm bằng:

“Chúng ta tìm thấy được ở Nam Kỳ một vị trí rất khích lệ. Chúng ta đạp chân trên một miền đất trù phú hơn cả. Tóm lại, nếu chúng ta biết lợi dụng và không làm hỏng tương lai, thì chính đây là nơi mà một ngày kia ảnh hưởng Pháp sẽ tỏa lan ở Á Đông”. “Thật là tốt khi chúng ta có trước mặt một xứ mà dân chúng không đồng nhất lắm nên có thể dễ dàng áp đặt một pháp chế mới, cũng không có những truyền thống địa phương nên có thể dễ dàng chấp nhận những thay đổi cần thiết sau khi bị chiếm đóng”

 

Và vì vậy, người Pháp đã có quyết định bỏ chữ Nho và dùng chữ Quốc Ngữ, 22-2-1869, gửi các con cái người Việt sang học ở Algérie. Tổ chức nền Học Chánh mới, xây cất đường xá, cầu cống, trường học, nhà thương v.v Cuối cùng thì họ đã hãnh diện đạt được những điều mà họ mong đợi và nghĩ đến chuyện bỏ chế độ bản xứ.

 

“Sau 50 năm làm thuộc địa và gần 20 năm qua, không có một cuộc nổi dậy nào dù chỉ là nhỏ bé, không có một cuộc bạo loạn nghiêm trọng nào đe dọa hoặc phá rối trật tự công cộng. Dân chúng bản xứ đã nhìn nhận một cách thẳng thắn những quan điểm mang tính chất hòa hoãn mà mẫu quốc đã đề nghị với họ.”

[Trích tóm lược bài viết: Chính sách Văn hóa của người Pháp ở Nam Kỳ thời thế kỷ 19. Nguyễn Văn Trung, Báo Đi Tới, số 29, Bộ Mới tháng 1/2000]

 

Cho nên sau này không lấy gì làm lạ khi người Mỹ có mặt ở nơi nào thì CIA có mặt ở nơi đó để bảo đảm an toàn cho đường lối chính trị cũng như chính sách quốc Phòng của họ. Nhất là sau khi thế chiến 2 vừa chấm dứt khi mà cộng sản Liên Xô bành trướng thế lực của họ bằng cách xâm chiếm các nước Đông Âu. Liên Xô trở thành một mối đe dọa thực sự và mở đâu cho cuộc chiến tranh lạnh. Vai trò do thám, cài người, gián điệp của không thể thiếu được.

 

(Còn tiếp)

 

 

(1) Lữ Phương, Cuộc xâm lăng văn hóa của đế quốc Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1981

 

 

Số lần đọc:  410