Please support us so we can continue fostering and upholding the values of the Vietnamese literature and art. Since Coi Nguon is a non-profit organization, your monetary donation is tax deductible. We look forward to your generosity and your continual support. Thanks.
• Trung - Nhật căng thẳng ngoài biển
• Khuất tất khi mua thuốc Tamiflu
• Lãnh đạo Miến Điện thăm Trung Quốc
• Anh - Việt ký 'Đối tác chiến lược'
• Người Chăm ở TP Hồ Chí Minh
• ̣Điều tra nạn người Việt trồng cần sa
• Vì sao Biển Đông trở nên nóng hơn?
• Lãnh tụ Kim và người kế vị
• Obama thúc giục hòa bình Trung Đông
• Lãnh đạo cao cấp của VTV từ chức
• Quan hệ đối tác chiến lược Anh-Việt
• Linh mục Lý 'chưa được ân xá'
• Chiến tranh băng đảng ở Mexico
• Trung Quốc đầu tư cho Thiên Chúa giáo
• Tướng Giáp qua năm tháng
• Ông Ôn Gia Bảo muốn cải cách?
• Vụ tin tặc là 'phạm pháp'
• Biển Đông căng thẳng do đâu?
• Thuyết mới về tiến hóa
• Khó đoán quy mô kinh tế thực của TQ
• Phản ứng về phát biểu của Đô đốc Willard
• Người Anh sử dụng truyền thông ra sao?
• Dầu khí và hợp tác ở Biển Đông
• Tướng Petraeus: Ðốt Kinh Koran gây nguy hiểm cho binh sĩ
• Angelina Jolie thăm vùng bị lụt tàn phá ở Pakistan
• Iran tuyên bố có quyền chọn thanh sát viên hạt nhân
• TT Obama tìm cách cải tổ hạ tầng cơ sở giao thông của Hoa Kỳ
• Xe bom giết chết 20 người tại Pakistan
• Chỉ tệ Á Châu mạnh hơn gây quan ngại cho giới xuất khẩu
• Tỉ lệ hút thuốc lá tại Mỹ vẫn ở mức 1 trên 5
• Kết quả thăm dò không thuận lợi cho Tổng thống Obama
• Pakistan trả tự do cho 141 ngư dân Ấn Độ
• Lợi tức hàng năm liên hệ đến hạnh phúc
• BP sắp công bố nguyên nhân vụ dầu tràn
• Con nhà độc tài Indonesia kiện hãng hàng không
• Nhật Bản, Trung Quốc phản đối vụ đụng tàu
To be posted
For all correspondence, please contact us at:
P.O. Box 3648
San Jose, CA 95156-3648
United States of America


Ca dao Mẹ - Thơ Chọn lọc Song Nhị
Lục bát của Mẹ . Thơ chọn lọc Dương Quân
Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn Yuriko Koike - Trà Mi
Tôi đi giữa đoàn tù vác đá. Thơ Song Nhị
Án Mạng - Truyện Hồ Linh
Phật Ngọc. hòa bình. an lạc. Tiểu luận Trần Kiêm Đoàn
Đại lễ cung nghinh Phật Ngọc. Tin văn Tin Việt News
Đại họa năm 2012. Nhận định Quảng Trí
Thơ Hoàng Bích Đào. Thơ chọn lọc Hoàng Bích Đào
Lễ hội VH Hải Nhuận - Tin văn Huỳnh Minh Nhựt
HN khởi xướng cuộc chiến. Nhận định Uwe Siemon-Netto
Bình Mnh - Thơ Chọn lọc Tiểu Muội
Em Và Ta - Tho Song Ngữ Hồng Hà
Tôi và Mẹ - Truyện Mimosa
Chùm Thơ Tháng 8 - Thơ chọn lọc Tuệ Nga
XH Dân sự tại VN - Tản văn Đoàn Thanh Liêm
Hoang Tưởng - Thơ chọn lọc Cao Nguyên
Người phụ nữ VN - Tiểu Luận Lê Mộng Nguyên
Thầy tây, thầy ta - Tản văn Phan Văn Song
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận Cung Trầm Tưởng
Chỉ có sự Thật - Tham luận Trần Mạnh Hảo
Vì sao cán bộ mặt dày. Tiểu luận Hà Sĩ Phu
XH Dân sự toàn cầu. Tham luận Đoàn Thanh Liêm
Ngồi lại bên nhau - Tản văn Giao Chỉ San Jose
Khóc Mẹ - Thơ Triều Nghi
Khoảng cách traí tim - Tạp ghi Phong Thu
Chuyện bên đời - Tản văn Hoàng Mỹ Linh
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký Trần Khải Thanh Thủy
Giấc mơ của Mẹ - Thơ Tiểu Muội
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký Trần Khải Thanh Thủy
Trí thức miền Nam - Nhận định Đoàn Thanh Liêm
Phải nói lại những điều đã nói. Thơ Song Nhị
Kể từ thơ lục bát - Thơ hcọn lọc Dương Quân
Mười Năm. Thơ chọn lọc Hoàng Mỹ Linh
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức Đoàn Thanh Liêm
Hệ thống luật pháp . Tiểu luận Phan Văn Song
Albert Einstein - Con người và sự nghiệp Phạm Đình Liên
Geneve chia cắt - Sự kiện Lịch sử Giao Chỉ San Jose
Song Nhị
Những người muôn năm cũ hồn ở đâu Bây giờ...
Tôi mượn hai câu thơ của Vũ Đình Liên “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ” để làm đề tựa cho bài viết này khi những ngày giáp năm, bỗng thấy lòng gờn gợn, phảng phất đâu đây không khí ngày Tết từ một thời xa xăm lắm, ở một miền đất cũng trùng trùng nghìn dặm, cách biệt cả một đại dương. Ngồi đây nhìn ra ngoài mà như đang thấy cả một khung trời xưa. Cũng gió lạnh, mây xám đặc trời, lất phất vài cơn mưa và lang thang vài con chim lẻ bạn.
Bỗng dưng đủ thứ trong đời ngập tràn ký ức, thôi thúc giải bày sớt chia, san sẻ... Chắc chẳng thiếu gì người như tôi, thiếu gì người có những kỷ niệm, những dấu ấn trong đời để mà nhớ, mà tiếc, mà buồn, mà giận... Mỗi mùa xuân, mỗi tuổi đời là một kỷ niệm. Kỷ niệm như những vết dao, cứ hằn lên khi có dịp như lúc này để cứ sống với mãi tận đâu đâu.
Ở nơi xứ Mỹ mà lại nhớ viễn vông về những cái Tết tuổi thơ với mảnh vườn đồng ruộng, những cái Tết đón bộ đội về làng, giao cho các bà “mẹ chiến sĩ” nuôi quân truớc khi vượt biên giới sang Lào đánh Pháp; Tôi lại nhớ mẹ tôi “bà mẹ chiến sĩ ” nuôi ăn cả một đại đội “lính cụ Hồ” trong hơn nửa tháng, nhưng chỉ hơn hai năm sau bà đã phải quỳ gối trước đấu trường để hứng chịu bao nhiêu trận roi đòn xỉ vả thậm tệ vì cái tội địa chủ, cái tội... đã có gạo nuôi quân. Những cái Tết sau đó tôi là kẻ lạc loài, bất lực nhìn gia đình khánh kiệt sau khi “đội Cải cách” về làng; những cái tết im lìm buồn thảm bao trùm lên số phận mỗi con người, mỗi gia đình, lên toàn thôn xóm... những cái tết phố phường ngập tràn lửa máu của Mậu Thân, khắp Sài Gòn, khắp Huế, khắp miền Nam; những cái Tết co ro đói lạnh buồn tủi trong bốn lớp tường vây và song sắt nơi các trại tù cải tạo...
Rồi tất cả cũng qua đi như những giấc chiêm bao, như những cơn ác mộng mà khi qua rồi, ngồi nhớ, lại thấy như an lành. Trên cõi đời tạm bợ này có gì là vĩnh cửu? Nhớ rồi quên. Có rồi mất. được rồi thua... Các triều đại đều lụn tàn, sụp đổ; con người, dù là gì rồi cũng chết, mọi giá trị đều đổi thay. Cái tôn vinh của hôm này là cái ngày sau phỉ nhổ, cái quá khứ nguyền rủa là cái tương lai tôn vinh.
Thế mà tôi lại ngồi nhớ những chuyện đâu đâu, những chuyện đã lặn chìm vào dĩ vãng. Ông Diệm không còn, ông Hồ không còn, mẹ tôi cũng đã mất; những trại tù tập trung cải tạo trên biên gới Việt Hoa, nơi Long Thành, Xuân Lộc, Hàm Tân, Gia Trung, Xuân Phước... chỉ còn là những tấm ảnh mù mờ trong “album” ký ức... thế mà cứ đeo đuổi theo tôi hàng chục năm trường, từ vùng heo hút nơi quê nhà sang mãi tới tận nơi đây, tưởng chẳng có gì dây dưa đến.
Một năm sau khi từ trại cải tạo được thả về, ông anh rể tôi rủ tôi đi xem cuộc khai quật mà người dân mộc mạc gọi là đào mả, một cuộc đào mả vĩ đại nhất trong lịch sử VN cận đại tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, thành phố Sài Gòn. Lần đầu tiên tôi chứng kiến hàng chục ngàn ngôi mộ bị đào xới bằng đủ thứ dụng cụ từ thô sơ như cuốc xẻng, xà beng đến cơ khí như xe cần cẩu, xe xúc. Các thứ dụng cụ gọn nhẹ như cuốc xẻng là của tư nhân, họ dùng đào mộ lấy hài cốt người thân đem đi cải táng. Những cơ khí nặng là của công quyền dành riêng cho các yếu nhân của chế độ cũ như Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Nhu, Thống Tướng Lê Văn Tỵ...
Tiếng khóc la, nguyền rủa hôm tôi chứng kiến không biết có động tới trời không? Trước đau đớn tột cùng hầu như người ta không còn gì để kiêng nể. Khi nhìn chiếc xe cần cẩu nện những khối sắt khổng lồ xuống trên từng nấm mộ ông Nhu, TT Diệm, tướng Lê Văn Tỵ và các ngôi mộ rắn chắc khác, để đập vỡ các tảng xi măng người ta gào thét, mạt sát đám công nhân, nguyền rủa chế độ với những từ ngữ mà bình thường không ai dám hó hé: “Chúng mày bạo tàn, chúng mày không còn nhân tính, trời sẽ hại chúng mày...” Họ chửi cứ chửi, cứ khóc, cứ la, đám người làm cứ làm, lặng lẽ. Họ đâu có quyền hành gì. Họ kiếm gạo về nuôi vợ con.
Tôi về nhà bỏ ăn một ngày, như vừa trải qua một cuộc khủng hoảng thần kinh. Không lâu sau, ông anh rể tôi lại rủ tôi đi xem vụ đào mả Bá Đa Lộc (*) ở khu ngã Ba Lăng Cha Cả, Sài Gòn. Sau lần làm chứng nhân bất đắc dĩ tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, tôi còn nỗi xúc động chưa vơi nên tôi không đi. Ông anh tôi đi một mình. Tôi được nghe ông kể lại không ai được đến gần, chỉ có toán đào xới, đại diện công an, đại diện Thông tin văn hóa, một nhân viên Tòa Lãnh Sự Pháp chứng kiến và ký biên bản về những gì tìm thấy trong ngôi mộ đã chôn cất cách đó khoảng 330 năm.
Alexandre de Rhodes ông là ai?
Nhân câu chuyện đào mả “Cha Cả” Pigneau de Behaine, tôi lại nhớ đến một bài viết về Bá Đa Lộc Alexandre de Rhodes. Ông giáo sĩ “Tây thực dân” này sang nước tôi truyền đạo cách đây đã gần 400 năm, đã chết từ hơn 300 năm trước mà sao hôm nay tôi lại vướng buồn. Tôi vướng buồn đang lúc tôi đang buồn khi đọc được bài viết từ trên Net nói về cuộc đời và cái “thân xác” nổi trôi của vị giáo sĩ, người có công đầu tiên hệ thống hóa và phổ biến chữ quốc ngữ của nước tôi.
Bài viết nói về tấm bia của giáo sĩ Alexandre de Rhodes; tấm bia không rõ từ bao giờ, đã mấy chục hay mấy trăm năm nổi trôi trong dòng thành kiến chính trị với công tội được đánh giá theo từng giai đoạn thăng trầm lịch sử của nước tôi. Từ ngày Alexandre de Rhodes đến VN rồi ra đi, để lại ngoài di sản ngoài chữ Việt Latinh là cả một trăm năm dài đất nước tôi, dân tộc tôi trở thành một đất nước, một dân tộc bất hạnh nhất mà hậu quả cho tới hôm nay vẫn còn nhiều di lụy, như những vết thương chưa biết đến bao giờ mới hàn gắn, mới lành lặn được. Phải chăng vì lý cớ đó mà “tấm thân” Alexandre de Rhodes đã bị đem làm ghế ngồi, làm bàn giặt giũ quần áo....
Thế hệ của tôi ở miền
Học trò trong
[Alexandre de Rhodes, sinh tại
chết tại
Ông ở Việt
Alexandre de Rhodes sinh ngày
Theo bút tích ghi trên văn bia, ông mất ngày 16.1.1660. Tại miền Bắc, phải gần ba thế kỷ sau khi ông qua đời, một nhà bia tưởng niệm Alexandre de Rhodes mới được xây trong khu đền Bà Kiệu bên cạnh Hồ Gươm, khánh thành ngày 29.5.1941. Công trình này do sáng kiến của cụ Nguyễn Văn Tố, một trong những người tích cực truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 19. Nhà bia xây kiểu Phương đình 4 mái, lối kiến trúc phương Đông, bên trong là tấm bia đá cao 1.70 m, rộng 1.1 m, dày 0.2 m trên đó ghi tóm lược bằng cả 3 thứ chữ Việt Hán Pháp.
Theo bản tin của một nhà báo ở trong nuớc thì cho đến nay, không ai còn có thể hình dung được cái nhà dựng tấm bia ấy nó như thế nào, bởi vì nó đã bị phá mất rồi. Ai phá và phá bỏ ra sao cũng không ai hay chỉ biết rằng tấm bia đã chịu số phận trôi nổi hàng mấy chục năm. Theo ông nhà báo ấy thì vào cuối những năm 60, tấm bia “đã bị sử dụng vào nhiều “tiện nghi” khác nhau như làm ghế ngồi của một hàng bán nước chè cạnh đền Bà Kiệu, sau đó ít lâu lại trở thành đe ghè của những ông thợ sửa ống khóa... Có thời gian tấm bia đã được đưa về dựng tạm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử, song chẳng hiểu lý do gì sau đó nó lại bị lôi ra mãi tận bờ sông Hồng trở thành... chiếc bàn giặt công cộng. Số phận phiêu bạt của tấm bia thăng trầm cùng với nhiều biến đổi của lịch sử. Đến năm 1995, “tấm văn bia quý giá ấy mới được đưa về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Hà Nội - 90 Thợ Nhuộm. Từ đó đến nay tấm văn bia ghi công đức Alexandre de Rhodes vẫn đang nằm chỏng chơ dưới tầng hầm”.
Ông nhà báo thắc mắc: “Tại sao tấm bia ông Alexandre lại bị hậu thế đối xử tệ đến như vậy? Nghe đâu họ gán cho ông cái tội “là công cụ đắc lực của những tên xâm lược” bởi sau gần 10 năm sống và truyền đạo ở Việt Nam, giáo sĩ Alexandre đã “trot” nhận xét rằng: “Đây là một vị trí cần chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia châu Âu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú.
Đặt ra câu hỏi nhưng không ai trả lời, và ông nhà báo cứ đi lần mò tìm câu giải đáp theo dấu vết thời gian. Ông cho hay trong hơn 10 năm qua đã có nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, đã có ý kiến đề nghị dựng lại nhà bia, đúc tượng đồng; đã có những công văn, nghị quyết ... nhưng từ đó đến nay tấm bia ấy vẫn nằm cong queo trong tầng hầm ở số 90 Thợ Nhuộm, Hà Nội...
Tôi không dám lạm bàn công Alexandre de Rhodes đến đâu, tội Alexandre de Rhodes đến đâu, vì dẫu sao ông cũng là một người ngoại quốc, đến như Tố Như của Việt Nam tôi mà đã từng không tránh khỏi bể dâu thời thế, để không biết có phải ngẫu nhiên mà có tựa đề quyển sách Bể Dâu Trong Dòng Họ Nguyễn Du của cụ Đặng Cao Ruyên Tổ hợp miền Đông Hoa Kỳ xuất bản 2002.
Truyện Kiều tại miền Bắc cũng một thời đã phải chịu truân chuyên như thân phận nàng Kiều, huống chi tấm bia của ông cố đạo “Tây thực dân” ấy. Truyện Kiều một thời từng bị phê phán là loại sản phẩm của “tiểu tư sản lãng mạn”, may nhờ có mấy nhà văn Nga (Liên Xô cũ) đọc mà phát hiện ra Đoạn Trường Tân Thanh là tác phẩm có tính “đấu tranh giai cấp” nên Nguyễn Du mới được phục hồi danh dự và người ta mới được đọc lại Kiều.
Tôi lại nhớ thêm không những Kiều mà đến cả tập Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh không dây mơ rễ má gì đến chính trị mà tác giả quyển sách này cũng đã phải công khai “tự kiểm”, tự vạch tội của mình như sau:
“... Xét về phương diện khách quan thì ngày trước hay bây giờ những câu thơ buồn nản hay thơ mộng vẩn vơ cũng đều là đồng minh của giặc. Giặc chỉ có thể xây dựng cơ đồ của chúng trên phần bạc nhược của con người. Chúng ta không dám làm người thì chúng nó mới có khả năng làm giặc”. Nói Chuyện Thơ Kháng Chiến 1951. Chương Nhìn Lại Thơ Cũ 1932 -1945 tr.12
Với “lòng thành khẩn” đó hay vì áp lực cường quyền, Hoài Thanh tiếp tục cuộc hành trình quay ngược chiều lương tri và nhân cách của người cầm bút khi ông viết:
“Thơ lãng mạn tiểu tư sản có thể xem là một sức phá hoại, vừa phá hoại chế độ thực dân phong kiến, vừa phá hoại nhiệt tình cách mạng. Trong thơ lãng mạn tiểu tư sản vẫn có một thứ lòng tin mà bọn thống trị có thể dựa vào, tức là lòng tin rằng cuộc đời là thế, không thể thay đổi được. Nhưng bọn thống trị cũ dựa vào lòng tin thì ít, vào võ lực thì nhiều.... Cho nên bọn thực dân dung dưỡng mà cách mạng lại phải tiến hành đấu tranh với thơ lãng mạn tiểu tư sản”. (“Về Văn Thơ Lãng Mạn Tiểu Tư Sản 1930-1945”. Bài Giảng Cho Lớp Văn Đại Học Sư Phạm Và Đại Học Tổng Hợp Hà Nội 1959).
Không biết lúc viết lên những đoạn văn như vậy có phải Hoài Thanh muốn nói ngược lại một cách bóng gió “Nhưng bọn thống trị (là ai??) dựa vào lòng tin thì ít, vào võ lực thì nhiều”.
Đến đây tôi lại liên tưởng đến trường hợp nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bản “nhạc vàng” Dư Âm. Năm 1983 ông được Ban giám thị trại tù Z30A Xuân Lộc mời vào diễn xuất văn nghệ cho công an và tù nghe. Khi giới thiệu ca sĩ Thu Nở lên trình bày một nhạc phẩm của ông, người nhạc sĩ này đã hết lời mạt sát loại nhạc vàng là ru ngủ, là đồi truỵ, là kích động, là đầu độc giới trẻ, dẫn giới trẻ đi vào một cuộc sống điên cuồng thác loạn... Vừa nói xong, khi tiếng nhạc trổi lên ông trao micro cho cô ca sĩ rồi biểu diễn những động tác nhún nhẩy ưỡn ẹo, khụyu gối xuống, nhướn người lên theo tiếng nhạc xập xình. Đám tù chúng tôi vừa mới nghe ông nhạc sĩ công kích lên án, thì thấy ông nhạc sĩ lập lại ngay những động tác mà ông vừa nguyền rủa. Hình như ông nhạc sĩ này cũng như hầu hết đám cán bộ CS quên một điều cử tọa của họ là số đông Sĩ Quan trí thức miền Nam, cứ theo thói quen bài bản mà... xổ...
Tôi vừa viết xong một đọan văn, vừa như trút được một nỗi buồn vô cớ giữa không khí cuối năm lãng đãng những kỷ ức buồn. Có người trách cứ mấy anh nhà báo, mấy người viết văn ưa nhắc lại chuyện cũ. Nhắc lại chuyện đã xưa rồi có khi làm người khác không vui, làm người khác buồn; có khi sinh sự, nhưng cũng có ý kiến cho rằng quá khứ, kỷ niệm là những thứ quý giá để dành mà nghiền ngẫm – dù là vui hay buồn. Lại có ý kiến nói rằng lẩn tránh quá khứ là một thái độ vong ân. Văn hóa và đạo lý VN không chấp nhận thái độ vong ân. Chuyện đó không ăn nhập với tôi trong bài viết này. Ở đây quá khứ, kỷ niệm đã giải tỏa được cho tôi nỗi buồn khuấy động trong một buổi chiều mưa gió cuối năm trên chốn đất khách quê người này.
Song Nhị 12.2004
---------------------
* Bá Đa Lộc, tên Pháp là Pigneau de Behaine, còn gọi là Eveque d Adran, là người đã giúp vua Gia Long lấy lại đất đai của nhà Tây Sơn. Ông được vua Gia Long gửi Hoàng Tử Cảnh sang Paris để điều đình với Pháp. Gia Long phong cho ông là Thái Phó. Khi ông mất, Gia Long sai làm quốc táng, mộ là Lăng Cha Cả ở ngả ba Trương Minh Ký và Chi Lăng nay là Hoàng văn Thụ.
