Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Hồ Linh

 

Nửa Tiếng Đàn

Tùy Bút

                              

Kính dâng hương hồn song thân

Lễ San-ti 2010

 

 Mạc Lan thân mến,

Không biết Mạc Lan còn nhớ đã có lần mình nói chuyện với nhau về Lễ Nhạc không? Mình vừa mới đi xem một buổi văn nghệ thính phòng của vợ chồng nghệ sĩ T.L.M và Ng.M. về. Thực ra đây không hẳn là buổi trình diễn âm nhạc mà nặng về ngâm thơ (T.L.M. có tiếng nhờ ngâm bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác thời còn ở San Jose). Trong buổi văn nghệ đêm nay anh cũng chỉ có bằng đó ngón nghề bổn cũ soạn lại, lẽ ra chẳng còn gì để nói, nếu không có màn trình diễn của nữ danh ca Ái Vân qua một bài Cung Văn. Ngồi đàn tranh, còn có đàn bầu, trống, phách… trong đó một ông bạn của mình là tay nghệ sĩ nửa mùa Phạm Tá cầm chịch trống chầu. Ái Vân con của nữ ca sĩ Ái Liên mà thời kháng chiến tản cư về quê mình, đêm đêm hát ở quán cà phê Trường Kỳ trên phố Phú Vinh. Ái Vân trong đồn văn nghệ của Việt Nam Cộng sản đã phá rào tị nạn chính trị trong một dịp sang trình diễn tại Pháp, và rồi tái định cư tại Hoa Kỳ.

 

Trở lại bài cung văn do Ái Vân trình diễn. Đây là một bài nhạc theo truyền thống, được hát trong các buổi lễ tại các miếu đền của đạo Mẫu cổ truyền người Bách Việt, thờ bà chúa Âu Cơ và các Bà Chúa khác như như Bà Chúa Thượng Ngàn v.v trong đó có Công Chúa Liễu Hạnh là một nữ sĩ nổi tiếng, có để lại một bài phú Vịnh Tây Hồ làm chung với bạn thơ như Phùng Khắc Khoan, và vài thi nhân khác một dịp du ngoạn trên hồ Tây…

 

Mạc Lan phải phân biệt Miếu Đền với Chùa chiền là nơi thờ Phật. Trong chùa của Phật Giáo cho mãi tới nay, thế kỷ hai mươi mốt, mới có một vài bản tân nhạc theo lối bây giờ, còn ngày trước chỉ có tụng niệm theo nhịp mõ, và được ngắt câu, phân đọan bằng tiếng khánh, chứ không có hát tức xử dụng nhạc ngũ cung như bên đạo Mẫu. Cái sai của Ái Vân cũng như ban tổ chức là khi để cô ca sĩ này chấm dứt bài cung văn bằng câu “Nam mô A Di Đà Phật” (Phật A Di Đà khác với Phật Thích Ca). Thế là chẳng hiểu gì về cung văn, về Lễ nhạc.

 

Vài câu trích từ bài phú Cảnh Tây Hồ:

Liễu Hạnh:  Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời

Lý: Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi/ Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh

Phùng: Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi/ Che mưa nhà lợp vài gian cỏ

Ngô: Chèo gió ai bơi một chiếc chài/ Giậu thủng chó đưa đàn sủa tiếng

Lý: Trời hôm bếp thổi khói tuôn hơi.

…….

Lễ nhạc của Đạo Mẫu ảnh hưởng tới lễ nhạc chốn cung đình, hay ngược lại, rồi ra mới phát triển ở chốn nhân gian. Tiến trình này cũng giống như âm nhạc Tây Phương sau này. Nếu mình biết cổ nhạc Tây Phương thường được gọi chung là Classic music, nó có phần phát xuất từ các nhà thờ Thiên Chúa Giáo tây phương, nguồn gốc từ âm nhạc La-tinh được hát trong các thánh lễ trước Công Đồng Vaticano II (1963). Thời đó, các linh mục dâng thánh lễ qua những kinh và đáp ca (thánh vịnh) bằng tiếng La tinh lấy từ Thánh Kinh (cựu ước và tân ước). Trong các lễ trọng (3 cha cùng dâng thánh lễ chứ không phải đồng tế như bây giờ), các kinh như Thương xót, Tin Kính và Lạy Cha đều được hát lên, cung điệu rất hay và chậm rải, dấu mau nhất là dấu đen (1 nhịp), còn thường là dấu trắng (2 nhịp) và dấu tròn (4 nhịp). Vì thế, kinh Credo (Tin Kính) bây giờ đọc trong vài ba phút, thời đó hát bằng La-tinh cũng phải mười lăm, hai mươi phút.

 

Credo in unum Deum, Patrem omnipotentem,

factore coeli et terreae,

visible omnium, et invisibilium.

Et in umum Dominum Jesum Christum,

Filium Dei unigenitum.

Et ex Patre natum ante omni saecula.

Deum de Deo, lumen de lumine, Deum verum de Deo vero.

Genitum, non factum, consubstantialem Patri,

per quem omnia facta sunt. Qui propter nos homines,

et propter nostram salutem descendit de caelis.

Et  incarnatus est de Spiritus Sancto

ex Maria Virgine. Et homo factus est.

Crucifixus etiam pro nobis sub Pontio Pilato,

passus, et sepultus est.

Et resurrrexit tertia die, secundum Scripturas.

Et ascendit in caelum, sedet ad dexteram Patris.

Et interum venturus est cum gloria,

judicare vivos et mortuos,

cujus regni non erit finis.

Et in Spiritum Sanctum Dominum, et vivificantem,

qui ex Patre Filioque procedit.

Qui cum Patre, et Filio simul adoratur

Et conglorificatur, qui locutus est per Prophetas.

Et unam, sanctam, catholicam, et apostolicam Ecclesiam.

Confiteor unum baptisma in remissionem peccatorum.

Et expecto resurrectionem mortuorum.

Et vitam venturi saeculi. Amen

 

Thời đó, lễ trọng có ba cha, thường là hai giờ, nếu lại do Đức Giám Mục chủ lễ nữa thì ngót nghét 3 giờ. Vì thế, nhiều nhạc sĩ nhạc cổ điển thường từng là nhạc trưởng hay tay đàn (đàn organ hay harmonium) của các ca đoàn nhà thờ (thời đó, ngoài hai nhạc cụ này, không cho phép chơi các nhạc cụ khác, kể cả piano), ngày trước gọi nôm na là Hội Hát. Cũng trong thời gian này, phụ nữ không được phép lên Cung Thánh (khu đặc biệt trong nhà thờ để cử hành thánh lễ ở phần đầu nhà thờ, trải thảm đỏ) cũng như không được lên gác đàn là nơi ca đoàn hát thánh lễ. Do đó, các ca viên hát giọng trầm do các thanh niên, còn bè giọng kim (bây giờ là giọng nữ) sẽ do các ca viên thiếu nhi nam chưa vỡ tiếng (thường 11, 12 tuổi). Ngồi ra, còn phải có một ca viên biết nhạc lý, giọng ca tốt để hát “sơ-lơ” (đơn ca).

Gác đàn là một cái gác lửng ở cuối nhà thờ dành riêng cho ca đoàn. Thời còn nhỏ, trong các dịp đại lễ, mình được cha mình đưa lên gác đàn xem lễ vì ông là một cựu đoàn viên, nên mình cảm thấy chút thoải mái khi nhìn xuống lòng nhà thờ chật ních bổn đạo.

Hậu bán thế kỷ mười chín, xứ đạo quê mình, cha chính xứ Trần Lục kiến tạo được quần thể giáo đường rất vĩ đại (mười năm xây dựng, khánh thành năm 1899). Nhờ đĩ, xứ đạo phát triển rất mau. Trong xứ gồm có nhiều họ đạo họp thành. Đức cha Marcou, tên Việt là Thành được bổ về coi sóc địa phận Thanh, gồm hai tỉnh Thanh Hĩa và Ninh Bình, lấy nơi đây là chính tịa, cha chính xứ cũng là một người Pháp có tên Việt là cụ Đinh.

Một trong những tập tục mới được thành hình là dành riêng tháng Năm làm tháng kính Đức Bà, được gọi văn vẻ là Tháng Hoa. Các họ đạo chia nhau trong tuần một buổi dâng hoa và hát mừng tại nhà thờ lớn. Thi đua làm kiệu hoa đẹp, thi đua có bài ca (được gọi là Vãn) hay, các cô ca nhi (gọi chung là Con Hoa) xinh tươi và giọng tốt. Cô nào hát hay, nổi tiếng thường được mua chuộc về nhập họ đạo và đương nhiên là nhập đoàn dâng hoa hay còn gọi là hội vãn Đức Bà của họ đó. Sắp đến tháng năm, mọi nơi đều xôn xao so “cựa” giữa các họ đạo căn cứ trên các con hoa. Để gây bất ngờ cho toàn xứ đạo, họ nào cũng giữ bí mật đoàn dâng hoa và các bài “vãn” của họ mình. Cái tập tục Tháng Hoa thánh thiện này lan dần ra toàn hội thánh Công Giáo Việt Nam và tiếp tục cho tới ngày nay. Thời gian mình đang nói đây là giai đoạn khởi đầu và phát triển sầm uất nhất của tháng Đức Bà. Các bài hát vãn dâng hoa cũng rất là phong phú, mặc dầu cả nước chưa có một nền tân nhạc bản xứ như sau này.     

Mỗi đoàn hát vãn của mỗi xứ đạo do một bà “trùm học trị” có danh phận đỡ đầu và một “đoàn trưởng”, thường là các thầy “tu xuất”, có căn bản nhạc lý và tiếng La-tinh để có thể dịch hoặc đặt lời Việt các bài hát vãn từ các thánh ca ngoại quốc hay các bài hát từ thánh vịnh. Đoàn hát dâng hoa thời đó gồm hai nhóm. Nhĩm các cơ lớn ca, một nhóm các cơ nhỏ mười một, mười hai thì múa dâng hoa. Các cô đàn chị hát hay các cô em múa đẹp, đoàn dâng hoa mới được điểm cao. Mỗi năm đều có những cô lớn đi lấy chồng, các cô bé không tham dự nữa, bà trùm phải tuyển các cô mới. Các họ đều “bí-mật” mở những buổi thi, tuyển lựa ca sĩ tức các “con hoa”. Xét về nhân cách, vẻ đẹp đoan trang, có thể hát những bài khó đúng nhịp cho các em múa. Mỗi năm có nhiều cô dự thi, ban giám khảo thường dậy tất cả một bài hát, vài điệu múa, sau đó để các cô trình diễn, và loại dần cho tới số cô muốn tuyển. Các cuộc thi này cũng rất là gây cấn, chắc chắn khó không kém tuyển lựa ca sĩ ngày nay.  

 

Mạc Lan có biết không, thời đó ở quê mình cái từ “thế gia vọng tộc” theo quan điểm xưa đã nhường chỗ cho một thành ngữ mới là “con nhà gia giáo”. Cụm hình dung từ này vừa trọng giá trị tinh thần vừa phản ảnh quan niệm tự do, bình đẳng của Ky-tơ giáo (không nặng phần giai cấp trong xã hội).   

 

“Cô ấy” là con trưởng một gia đình gia giáo họ Nguyễn, một họ lớn có nhiều đóng góp cho sự phát triển của vùng đất tân bồi nằm bên hữu ngạn cửa sông Đáy. Cụ trưởng tộc, một nhà Nho từ tỉnh Thanh ra Kim Sơn mở trường dạy học có nhiều môn sinh thành đạt. Thế nhưng cô lại được mọi người trong nhà khuyến khích học chữ quốc ngữ nơi trường các soeur Saint Paul. Nhờ nét mặt xinh tươi, giọng hát oanh vàng và nền giáo dục khai phóng, từ năm mười một, mười hai cô đã trở thành “con hoa” tài năng của hội vãn Đức Bà của họ Lưu Phương. Các bà trùm trong xứ đều biết đến c ô và thường dùng làm đối tượng để các “con hát” của mình vươn tới.

 Nói về văn hóa, khi xã hội ngày càng văn minh, người ta càng muốn trở về nguồn. Hiện nay, âm nhạc trong phạm vi vãn dâng hoa tại các nhà thờ Thiên Chúa Giáo, ta thường gặp những bài hát theo nhạc ngũ âm. Khuynh hướng này, thời cô Tiên còn là “con hoa” của họ đạo Lưu Phương cũng đã xẩy ra.  

Cho đến thời gian những bản nhạc như Ave Marie Stella hay Salve Mater lời Việt:

(Cung bài Salve Mater)

Mừng Bà Rất Thánh,

Phúc đức no đầy chan hòa,

Bà là như neo để kẻ đi tầu trông nhờ

Lòng Bà nhân đức gồm no đầy ơn ga sa

Thương xem chúng tôi đang phải mọi chước quỉ ma

Ô! Maria 

 

Điệp khúc:

Trinh khiết nhiệm mầu, chúng con dâng cành hoa trắng (bài hát qua các mầu xanh, đỏ, trắng, tím, vàng).

Mừng Đức Mẹ nay trắng tốt hơn tuyết cùng gương

Lóng lánh hơn các ngôi sao ở trên tầng mây

NgTiên tuyền trong suốt, dường như bảng tinh sáng láng

Ô Maria!

cả hai cung, v.v đã được hát đi hát lại nhiều lần, một khai phá mới đưa tới một số bản nhạc vãn dâng hoa được trình diễn bằng những cung điệu cổ điển có trong nhân gian từ lâu như điệu Kinh Sử, Phú (Hát nói), Tứ Đại Cảnh của họ Lưu Phương khiến một số người dị nghị vì cho rằng các cung điệu đó thiếu đứng đắn. Tuy nhiên, các bậc trưởng thượng trong họ đã trình bầy với cha xứ là cố Độ, khuynh hướng trở về nguồn trong bản nhạc hát theo những cung cổ điển và như là cách gìn vàng giữ ngọc. Những cung đĩ phát xuất từ lòng dân tộc, của những văn nhân thi sĩ tài danh, chính thống. Một vài cung được hát ở chốn ăn chơi chỉ là sự tình cờ tùy hứng của một số tài tử. Trong dịp này, cô Tiên được các cụ chọn để trình diễn những tác phẩm mới này, đã được cố rất tâm đắc và cho phép những cải cách này trong vãn dâng hoa.

 

Mình viết ra đây một bài Phú mà thời đó cô Tiên đã hát. 

Thánh Mẫu phương danh tiêu hách hách

Phượng hình ý phạm yết chiêu chiêu

Khắp đông nam vũ nhạc tiêu thiều

Đường đông bắc ca dao thỏa thiết

Hoàng kim điện uy linh lẫm liệt

Ánh vân thiêng nhuận biệt chung linh

Trận mưa thiêng chan chứa thân hình

Miền giác địa linh đình hoa tộc

Gương chính khí giữa giời sáng quắc

Cửa thiên môn một gốc linh phai

Ngành hoa quả đức lại vinh hoa

Mùi thơm ngát trên tòa kính đốc

Chúng con nay hiến thành cân bộc

Xin Đức Bà rộng đức khoan dong

Bốn mùa hòa khí xuân phong

Thơ rằng:

Nguy nga báu điện chiêm danh tiền

Thuyết đảo thanh hòa thảo sắc nghiên

Nhất đức lưu huỳnh huân đế tạo

Bách hoa hiến thái vũ giai tiền. 

 

Trong những bài vãn này có nhiều chữ cổ (thời sơ khai của chữ quốc ngữ) và chữ Hán nên nhiều câu người bây giờ khó hiểu. Hơn nữa, nhạc điệu những bài Phú hay còn gọi là Hát Nói, không được ghi lại như những bản nhạc hát lễ mà tùy thuộc vào cung bực gần như truyền khẩu. Những chữ mau, chậm, ngân nga gần giống ngâm thơ, nhưng ở trình độ cao hơn, gần gũi với nhạc, nhất là những câu láy hay tiếng ngân được kéo dài (như nốt trắng hay trịn trong nhạc tây phương). Hơn thế nữa, ngâm thơ chỉ cần một cây sáo hoặc tỳ bà, trong khi Phú cần phải có phường bát âm, gồm  đàn tỳ bà, đàn đáy, đàn tranh, nhị, sáo, phách, trống chầu. Muốn trình diễn một bài Phú, ca nhi cần phải có một làn hơi mạnh, dài, mất nhiều thời gian tập luyện với những luật tắc chặt chẽ. Vì thế người hát được những khúc này, nhất là còn trẻ tuổi như cô Tiên, thực rất hiếm.

 

Mười lăm, mười sáu tuổi cô Tiên theo gia đình về sống tại làng Văn Hải, nơi thân phụ cô nghỉ hưu sau khi nhường chức cai tổng Tự Tân cho ông em. Nhưng đến Tháng Hoa cô cũng thường về tham gia, và danh cô vẫn còn được các bà trùm học trò nhắc tới như một mẫu mực cho các đoàn viên của họ vươn tới. Và ngoài cổng nhà cô bắt đầu có những chàng thanh niên rắp ranh bắn sẻ.

   

Thân mẫu cô tuổi chưa tới bốn mươi, nhưng cô đã có năm em. Thân phụ cô là người đầu tiên có xe ngựa lồng kính để gia đình đi về thăm nom các cụ trên Lưu Phương hay mẹ con đi những chợ phiên Ninh Bình, Thanh Hóa.

 

Năm đó, người thanh niên thường hát sô-lô cho hội hát nhà xứ vừa học xong năm thứ ba trường Lycée Protectorat (còn gọi là trường Bảo Hộ hay nôm na là trường Bưởi, tiền thân trường Chu Văn An sau này) ở Hà Ni về quê nghỉ hè lại trùng với lễ “San-ti” (lễ kính mình và máu thánh Chúa Giê-su thường vào tháng 6 dương lịch), một lễ được tổ chức rất linh đình. Chính Đức Cha kiệu Mình Thánh Chúa từ nhà thờ lớn, đi vòng ra cả phố chính. Họ nào cĩ kiệu đi qua, phải làm một “nhà tạm” lớn, được chăng đèn, kết hoa rất đẹp, có bàn thờ để Đức Cha đặt “Mình Thánh”, đoàn rước kiệu đứng tại chỗ, cùng hát một bài thánh ca chừng năm phút. Sau đĩ mọi người lại tiếp tục lên đường, để cuối củng, theo đường vòng trở lại nhà thờ lớn. Tất cả các hội đoàn và trường học Công Giáo đều tham dự. Trong ngày lễ này, cậu con trai ông thủ quĩ làng trị sở cũng vẫn giữ vị trí hát sô-lô trên gác đàn.

   

Cô Tiên vừa hát xong Tháng Hoa, chưa về Văn Hải. Nhân khi ngồi xem lễ, cô bạn thân nhất thì thầm:

- Năm nay mình lại trở về hát cho họ chúng ta mà thiêng ghê cơ.

Cô Tiên ngẩn ra:

- Mày nói thiêng là thiêng cái gì vậy?

- Thì này, cậu Vũ nhà ông quĩ làng, học ở Hà Nội, mới về quê nghỉ hè, rồi cũng lên gác đàn hôm nay đó.

Cô Tiên dấu nụ cười:

- Thì mặc xác người ta chứ dính dáng gì tới “min” (tôi, tiếng địa phương).

- Thì cũng xứng đôi vừa lứa đấy chứ.

Cô bạn ngồi bên khẽ nói:

- Ơ hay nhỉ? Ở đời, trâu đi tìm cọc, chứ ai lại cọc đi tìm trâu.

 

Tuy là vậy, nhưng khi tiếng hát của cậu Vũ cất lên giữa cảnh hàng ngàn giáo dân đang trang nghiêm dự lễ trong nhà thờ, cô Tiên bỗng cảm thấy lòng xao xuyến lạ thường. Mấy người học trường “sơ”, nhất là các cơ “con nhà”, đã thấm nhuần chút văn minh thành thị, nên tình yêu vừa chớm nở, chuyện vợ chồng chưa hẳn đã là vấn đề, mà “cảm tình” nhen nhúm từ những âm điệu, cung bc, khởi đầu cho những tâm hồn lãng mạn... Vì thế mấy anh tài trong hội hát nhà xứ là mục tiêu đưa tới những gán ghép với nhau rất là vui vẻ.

  

Cô Tiên đã trở về Văn Hải với những niềm vui của tuổi mới bước vào lãnh vực tình yêu mà những lời gán ghép của mấy cô bạn, đã khiến lòng cô không khỏi vấn vương.

 

Anh cháu họ hai bề, nói với ông cụ:

- Con bé đó vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang, cháu muốn làm mối cho chú Vũ nhà mình, chú thấy sao?

Ơng chú bất ngờ quá, nhíu mày:

- Ngươi ta là gia đình văn học…

    - Nhà mình tuy là nhà buôn bán, nhưng chú đã đóng góp công của với làng xã khá hào sảng như xây mười cái đình để họp chợ buôn bán bên sông Ân, một ngôi nhà thờ họ Rosa, thêm tòa nhà Hội đồng ở cửa đông nhà thờ lớn, đủ để họ nể mình rồi. Chú hơi nhún nhường đó, họ đâu có thể không lý tới những việc này. Hơn nữa chú Vũ nó cũng đang học tại trường Bảo Hộ ở Hà Nội, Mình hỏi, cháu chắc chắn họ sẽ bằng lòng…

- Vậy thì anh thử đánh tiếng cho em xem sao.

Một tuần sau thuyền ông anh đã ghé bến có cây si ngả bóng trên sông Văn Hải trước cổng nhà ông cựu cai tổng.

Chủ khách là chỗ họ hàng, anh được đón tiếp rất niềm nở.

   

Tối hôm đó, bà mẹ sẽ bảo con gái:

- Mười bảy, hết thời học trò vui chơi rồi, lấy chồng là vừa. Anh Tuyển có tới bắn tiếng cho cậu nào đó rất có tiếng trong hội hát nhà xứ đấy con ạ.

Cô con gái rượu:

- Thôi mẹ ơi, con còn nhỏ mà, cho con ở nhà ít năm nữa, đi làm dâu nhà người ta sớm làm chi cho khổ. Chắc là lại cái ông “ăn cơm nhà Đức Chúa Lời” (tu xuất) chứ gì?

- Con biết cậu ta bao giờ vậy?

Cô con lắc đầu:

- Thì con Liên nhà cô phán Hòa nó có nói với con mà.

Thân phụ cô ngồi đọc sách, nghe hai mẹ con nói chuyện, thư thả bỏ cặp kính trắng xuống, nói:

- Không phải ông già Thu (tiếng gọi mấy ông đã đi tu sắp được làm linh mục, không phân biệt tuổi tác, kể cả mấy người đã xuất), mà là cậu Vũ con ông quĩ họ “trị sở” (là họ đạo nơi có nhà thờ lớn của địa phận).

   

Bà gật đầu:

- Phải đấy con ạ. Cậu này đang học ở tận Hà Nội kìa.

Cô con gái cười khúc khích, sa vào lòng bà mẹ:

- Cũng … không được đâu.

Bà vỗ vào lưng cô:

- Vậy cô muốn làm dâu nhà ông huyện Yên Khánh hay anh giáo Hòa trường Pháp Việt chứ gì (trường mới mở dạy theo chương trình chữ quốc ngữ và tiếng Pháp), bằng lòng thì mai trả lời cho người ta đi.

Cô giật nảy mình:

- Chao ơi, con nói bằng lòng họ bao giờ?

   

Dăm tháng sau, một lễ xem mắt được tổ chức và sau đó không lâu là lễ ăn hỏi của cậu Vũ trong hội hát nhà xứ và “con hoa” Tiên danh tiếng của hội dâng hoa họ Lưu Phương.

   

Trước đây, hôn nhân của các cô các cậu đều do cha mẹ làm chủ, điều kiện tiên quyết thường là vấn đề môn đăng hộ đối. Cô dâu chú rể chẳng quen biết chi nhau cho đến đêm động phòng hoa chúc. Thời cô Tiên đã có thay đổi quan trọng, do giáo luật đạo Công Giáo, trong hôn nhân, cha mẹ hai bên không được ép buộc con cái mình. Nơi thánh lễ hôn phối, trước mặt linh mục chủ tế, cô dâu, chú rể phải nói lên sự tự do kết hôn của mình, nếu không, phép cưới vô hiệu.

 

Cuộc tình của hai cô cậu này có thêm yếu tố mới là “âm nhạc”, dòng nhạc nhà thờ cũng như dòng nhạc vãn Đức Bà dự phần quyết định. Cơ cậu đã đồng cảm nhau qua lời ca tiếng hát đĩ. Nếu không có chúng, chắc gì họ đã nên duyên nợ vợ  chồng!

 

Năm cô Tiên từ giã đoàn dâng hoa, hát vãn Đức Bà họ Lưu Phương, cậu Vũ đã đặt lời Việt bản Ave Maria của Schubert tặng họ Lưu Phương và để cô hát lần cuối trước khi về nhà chồng:

   

Con hèn cung kính dâng

Lên trước tòa châu báu

Không khen bao lời ca Nữ Vương   

Đồng trinh no đầy ơn phúc cao sâu   

Bóng thiêng liêng bầy ra trước nơi tòa thiêng   

Hằng tưởng nhớ nơi Thiên Đường   

Một mai hồn con lìa xa xác hèn

Về nơi ngàn năm tươi thắm êm đềm   

Cùng theo lên trên nơi mây cao sáng trưng

Đầy ơn hát khen Đức Nữ Đồng Trinh

Ave Maria...

   

Trong hai năm ở rể, cậu Vũ sắm xe đạp hiệu Peugeot, đi lại nhà vợ tương lai trong những dịp Sêu Tết. Và rồi lễ cưới theo phép đạo được cử hành tại thánh đường xứ Văn Hải là quê cô dâu. Đặc biệt lần đầu tiên một lễ cưới được cử hành như một lễ trọng, được gọi là Lễ Hát. Hội hát nhà xứ được tăng cường thêm hội hát trường lý đoán (trường triết của các thầy sắp được chịu chức linh mục), trường đã được song thân chú rể dâng cúng hàng năm, thời đó gọi là ân nhân, càng làm cho thánh lễ thêm phần long trọng. Từ đó, lễ cưới của các bạn trẻ trong xứ cũng bắt chước thêm phần “hát lễ cưới” như thế.

 

Khi “con hoa” có con đầu lòng, cơ biến lễ nhạc trong nhà thờ thành những bài hát ru con.

 Những năm sau đó, nền âm nhạc Việt Nam được khai sinh với những Lê Thương, Đặnh Thế Phong, Thẩm Oánh… cậu Vũ đi đâu, Nam Định, Hà Nội gặp những sáng tác đó cũng học thuộc, về nhà tập cho vợ để đôi uyên ương đó ca hát với nhau trong những lúc trăng soi đầu bãi, gió heo may nhảy đồng (thời đó quê mình còn là vùng tân bồi, phố xá buôn bán chỉ có một còn đất đai phần lớn là đồng ruộng phì nhiêu). Cậu Vũ còn lên hiệu Thái Thương trên phố để đặt mua máy hát, đàn mandoline và sách nhạc từ bên Pháp về tập chơi nữa mới là văn minh chứ. Đời sống của họ rất hạnh phúc.

   

Mỗi khi có khách, nói tới chuyện cô cậu, bà mẹ chồng thường mắng yêu:

- Chúng nó vợ “con hoa” chồng “học trò” chỉ thích vui chơi chứ chả lo làm ăn gì cả.

   

Mạc Lan, có thể nói đó là một cuộc tình duyên rất đẹp trong lễ nhạc nhà thờ, phải không?

Và nói theo ý niệm nhân gian, hai cô cậu này đã tìm lại được nửa tiếng đàn (chứ không nửa mình) của mình đã bị lạc từ kiếp trước.                     

June 22, 2010

 

 

 

Số lần đọc:  431