Upcoming Books



Ra mắt sách NTKVN - Tin Văn  Nguyên Huy - Người Việt
Thời điểm của Hillary. Tin văn  Yuriko Koike - Trà Mi
cơn sầu vạn cổ. Tiểu luận  Cung Trầm Tưởng
Khóc Mẹ - Thơ  Triều Nghi
Tôi gánh trong traí tim (3) - bút ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (2) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
Tôi gánh trong tim (1) - Bút Ký  Trần Khải Thanh Thủy
TKTT. Thư gửi con gái. Yin Văn  Trần Khải Thanh Thủy
Câu chuyện di cư - Hồi ức  Đoàn Thanh Liêm

Hồ Linh

 

Tâm Sự Của Một Người Em

 

Nếu có ai hỏi tôi cảm tưởng sau khi đọc tác phầm Đường Xưa Lối Cũ của Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh, tôi không ngần ngại mà nói đây quả thực là một tác phẩm tuyệt vời mà tôi hằng mong đợi. Chuyện này không có gì lạ vì tác giả là người anh cả của đàn con chín anh chị em của cha mẹ chúng tôi. Những chuyện anh kể dù không một chữ nói về đám em ún của anh, nhưng khi đọc tác phẩm này, chúng tôi đã tìm thấy chính mình trong đó.

 

Làm sao không tuyệt vời khi anh viết về những hình ảnh thân thương và đầy kỷ niệm đẹp nơi trang trại “Tân Minh Trang” của gia đình, những vườn cây trái, những bè rau muống hoa tim tím bên bờ ao, những con cá chép, cá mè bắt từ dưới ao nhà lên, còn đang giẫy “đành đạch”, để làm gỏi đãi khách; cái món nhậu da bò gác bếp vào một chiều đông lạnh, mưa gió đầy trời. Đó là một thời thanh bình, hạnh phúc, nhất là trong những ngày mùa gặt châu ngọc.

 

 “Trời mưa sầu ướt không gian

 Lạnh lùa song trúc nước tràn mái hiên

 Đã bao đêm nặng ưu phiền

 Xôn xang muôn nỗi chong đèn nghe mưa

 Ao ngoài sóng vỗ bơ vơ

 Thềm khơi hiu quạnh nhắc mùa cô liêu

 Trăng suông lụi nhạt tiêu điều

 Đèn hoa bóng ngả xiêu xiêu vách nhà”

 (Mưa Mùa Cổ Điển)

 

 Thưa, dù đôi khi cũng có những nỗi buồn mưa thu, nhưng cũng rất đẹp và rất “Đường Thi”.

 

 Làm sao không tuyệt vời khi anh ghi lại những đêm kỷ niệm dịu dàng khi ánh trăng lấp lánh trên giòng Ân Giang. Gió lên và nước lên và trăng lên hòa lẫn sương khói vây quanh, thấp thoáng ánh đèn chai của chị bán hàng rong trên phố khuya im vắng và thơ mộng!

 

 “Giòng Ân ướt đẫm hơi trăng

 Phố khuya thấp thoáng đèn hàng gánh mau”

 

Làm sao không tuyệt vời khi anh tả cái mát tê người khi đặt lưng trên cái sập đá hình bánh chưng để nhìn lên vòm trời tròn bánh giầy (tượng trưng cho ý niệm nhân bản của triết Việt) giữa phương đình nhà thờ Phát Diệm vào một buổi trưa hè ve kêu ra rả trong những lùm cây nhãn cổ thụ!

 

Làm sao không tuyệt vời khi anh nhắc tới những đêm hòa nhạc cổ điển Tây Phương tại rạp Kiến Thái hay Nhà hát Đức Cha (mô hình giống nhà hát lớn Paris) trong khuôn viên nhà thờ Phát Diệm thời cách mạng Mùa Thu! Này “ông” Đỗ Thế Phiệt đã chơi những bản Serenade của Schubert, Thiên Thai của Văn Cao; ông Nguyễn Văn Hiếu lướt trên phiếm đàn piano bài Tristresse của Chopin, Ave Maria của Schubert, nhất là bản Moonlight của Beethoven, anh Hiếu (1) chơi đoạn mở đầu Sonata với tiếng đàn không nhanh nhưng dồn dập nhờ phần đệm, sau đó là tiếng vĩ cầm của anh Phiệt (1) tha thướt như tấm lụa bạc lấp lánh ánh sao, và nhiều nhiều nữa, trong những đêm trăng thanh gió mát mà khán giả chỉ vẻn vẹn gia đình người đang trân quí hổ trợ và khuyến khích hai đại nghệ sĩ thời tao loạn này. Vì thế, năm sáu mươi năm qua, kể cả thời bên Mỹ này, mẹ chúng tôi vẫn khăng khăng nói không ông Mỹ, ông Tây nào (thêm mấy ông Nga Xô nữa), chơi đàn hay bằng anh Phiệt, anh Hiếu. Vâng, sự đền bù đó quả xứng đáng vì đã mấy ai, kể cả thời nay, được chiều lòng đến như thế. Cụ Vi Huyền Đắc vừa nằm hút thuốc phiện vừa điều khiển mấy nghệ sĩ tập kịch dưới nhà ngang, mặc dầu vào thời đó, lệnh Đức Cha cấm ngặt các giáo dân không được ngả bàn đèn trong nhà. Khi nhớ lại những ngày ban đại hòa tấu tập đàn hát trong ba gian nhà khách rộng lớn của chúng tôi, tôi mường tượng ra hình ảnh hai cô con gái bà Cừ tức nữ ca sĩ Thanh Tước, diện váy đầm đen, áo trắng bồng tay, nhảy cò cò trước hè, trong khi mẹ các cô đang khổ sở vì nốt nhạc “rê mi-nơ” đổi sang “fa ma-dơ” nơi bài Serenade của Schubert. Nhắc tới vụ mẹ tôi thuê con gõ (thuyền lớn, không có mái chèo mà phải chống sào mới đi được) lên mãi tận Lạc Thủy chở đàn piano về cho ban nhạc, tôi như thấy anh Hiếu đang xòe hai bàn tay đặc biệt, để có thể chơi đàn cho hay, những kẽ giữa các ngón tay của anh đã phải cắt ra, khi chúng tôi ngồi trên Cầu Ngói chờ đàn về. Ôi ai có thể yêu nghệ thuật bằng ông danh cầm thủ này?

 

Không tuyệt vời sao được, qua tác phẩm này, anh có những nhận xét rất lý thú và hiểu biết rành rẽ về “đất lề, quê thói” của một quê hương nghèo, cổ hủ nhưng cũng lịch sự và rất hiếu khách. Khi đề cập tới những món ăn thôn dã, anh diễn tả như một thứ tinh hoa của quê hương, những món “đặc sản” rẻ thôi, mà đi tới đâu, bà con Phát Diệm chúng tôi vẫn nhớ và thèm ăn! Trong gia đình, từ bé đến lớn, các em nhìn tác giả như một con người văn minh, lịch lãm, đã được đi “du lịch” nhiều nơi, nên nghĩ anh chỉ chuộng những cái văn minh, tỉnh thành, ăn cơm tây, uống rượu tây và nghe nhạc tây, nhưng không ngờ anh cũng “quê mùa” đến thế!

 

Không tuyệt vời sao được khi thấy một gặp gỡ tình cờ, nhưng rất quan trọng cho quê hương, giữa ba học giả Phát Diệm, mỗi người một phương diện, đã biện hộ cho vai trò của Cha Trần Lục, linh hồn của Kim Sơn-Phát Diệm, trong thời bình định phong trào Văn Thân: Lê Hữu Mục qua tác phẩm Trần Lục, linh mục Trần Văn Kiệm qua tác phẩm mới đây Danh Nhân Việt Nam và bây giờ Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh qua Đường Xưa Lối Cũ”. Một sự việc đáng kính phục!

 Quả thực, Đường Xưa Lối Cũ mang nhiều ý nghiã. (2)

 

 Tuy nhiên, tôi biết tác giả rất khiêm tốn khi phải viết về mình. Viết văn tự truyện mà giữ chừng mực được như thế là hiếm lắm. Vì thế, có rất nhiều chuyện về chính anh, chúng tôi đã thấy anh không viết kỹ hơn để đền bù cái giá mà anh đã bỏ ra cho “nghệ thuật bất vị gì cả”. Vì thế, tôi xin phép nhắc lại, để gọi là gìn vàng giữ ngọc” cho con cháu giòng họ Vũ Phát Diệm hiện trôi nổi khắp “năm châu bốn bể”. Xin quí độc giả thông cảm và miễn thứ cho.

 

Thực tôi không nhớ rõ ngày đó tôi bao nhiêu tuổi, chỉ biết gia đình vẫn còn ở căn nhà cũ xây dựng từ ngày cha mẹ chúng tôi về Như Tân lập nghiệp, tôi đã ngồi rất lâu xem anh vẽ một bức ảnh Chúa Giê-su chịu chết trên cây Thánh Giá, với những dấu đanh máu me đầm đìa. Một hôm cha xứ tới chơi, không biết anh tặng hay cha xin, bức hình đó sau này tôi còn thấy treo trong phòng khách nhà xứ. Thời cách mạng tháng Tám, trong khí thế đấu tranh cao ngút ngàn, anh vẽ bức tranh lớn bằng cái chiếu một thanh niên thân thể cường tráng, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn, tay phải nắm lại, giơ ngang mày, trong tư thế chào kiểu cách mạng (Tây chào thì tay phải xòe ra, chào kiểu nhà binh sau này). Bức tranh mầu này được treo trong những buổi khai hội. Đến nay, nó phiêu bạt nơi đâu không rõ. Sau này tôi còn thấy anh vẽ nhiều tranh, một ít tranh dầu, nhất là những hình ảnh trong các sách giáo khoa anh viết. Vì thế, không lạ, thời 1946-1947, anh đã đón mấy bạn họa sĩ về ở trong nhà chúng tôi như ông Phạm Tăng (có chú em bằng tuổi tôi tên Hán, không biết bây giờ ở đâu?), Nguyễn Xuân Phái và sau này Nguyễn văn Phương đi lại rất thân mật ở Saigon trước 1975. Năm 1947, cha tôi giao quyền cho anh vẽ họa đồ (blue print) xây dựng tòa nhà mới ở trại Tân Minh Trang (anh chưa từng học môn kiến trúc), và sau một năm xây dựng, tuy tiền phí tổn gần gấp đôi khi dự trù, nhưng nó đẹp và lớn nhất vùng Kim Sơn (chỉ thua nhà thờ Phát Diệm).

 

Trong Đường Xưa Lối Cũ, tác giả nói nhiều đến những bộ sách giáo khoa anh viết, nhưng có lẽ anh cũng coi là tầm thường, cuốn Thành Ngữ Việt Anh Pháp do nhà Dziên Hồng của anh Lê Bá Kông xuất bản ở Hà Nội 1951. Nhưng tôi muốn nhắc tới nó vì thấy anh đã chăm chỉ làm việc suốt một mùa nghỉ hè tại trại nhà chúng tôi ở Như Tân, lúc ấy anh mới ngoài hai mươi.

 

Một điều mà tôi cũng ngỡ ngàng khi anh viết về bài Tiếng Đàn Âm Thẩm của Lê Thương mà từ tấm bé, tôi đã từng nghe mẹ tôi “ru chúng tôi ngủ” (3). Chưa bao giờ anh em chúng tôi nói với nhau về kỷ niệm này, không ngờ lại trùng hợp một cách lý thú.

 

 “Tiếng đàn âm thầm

 Đêm trường canh ba tiếng ngâm

 Não nùng tấm lòng

 Hồn anh thấp thỏm nhớ mong

 Anh đứng chờ em trên đường thanh vắng

 Mong suốt tàn canh, nỗi lòng cay đắng

 Tiếng đàn âm thầm

 Làm say đắm tình ái ân

 Nước trên trời mưa xuống

 Tưới vào vết thương muôn nghìn đau đớn

 Của người biệt ly

 Tấm lòng hoài nghi

 Trầm luân cuộc thế, nếm bao cay đắng

 Tiếng đàn âm thầm&

 

Anh khởi sự viết nhạc vào năm một chín bốn mươi ba, tôi nghĩ cũng không thua lắm những người viết nhạc Việt đầu tiên của ta. Anh không nói nhiều tới “cái sự nghiệp âm nhạc” của anh, nhưng tôi không bằng lòng “tha” cho tác giả vì những bản nhạc do anh sáng tác thời đó đã từng là cái “hoạ” lớn cho các em của anh, nhất là tôi! Ngày đó tôi chừng sáu bảy tuổi, mỗi khi làm xong một tác phẩm mới là anh bắt chúng tôi tập hát. Nhiều lúc tôi bực mình quá khóc rống lên là mẹ tôi tới “can thiệp” để giải vây cho. Nhưng khi bà vắng nhà thì đành chịu thôi. Các anh chị lớn không dám phản đối, thấy tôi phá bĩnh, cũng nhân đó vội giải tán để thoát nạn. Nhưng cho tới nay nghĩ lại số phận của những tác phẩm này, tôi thực tiếc. Hay, dở không quan trọng, chỉ nghĩ đó là những kỷ niệm trân quí của gia đình. Cũng rất may, dẫu hồi đó chúng tôi “mắc nạn”, nhưng nhờ thế mà chúng tôi còn nhớ được một số trong những tác phẩm này. Thế nhưng, mỗi khi nhắc nhở tác giả, anh cho rằng chẳng đáng gì, vì nó đã qua đi cái thời “huy hoàng” của chúng.

 

Chiều tím nhẹ rơi trong sương lam

Nước triều dâng sóng gợn êm đềm

Đây sông cả, quê nhà in bóng

Dưới hàng cây vươn đón gió ngàn.

Chiều nay thu đã xuống ú u ù u

Trời lạnh trên sông vắng, chợ đã về

Xa bến lâu thương người, sông nước đầy vơi.

Cô lái đò ơi, thuyền đâu hãy ghé vào đây cho tôi sang với

Vắng khách thuyền giữa giòng sông chơi vơi.

Hãy đón tôi sang nhà tôi nơi đó,

Dưới hàng cây lá rủ trên bến đò

Cô còn nhớ tôi không

Mỗi khi thu xuống, tôi vẫn hay về làng

Năm năm lưu lạc giang hồ

Nhớ quê nhớ cả miệng cô lái đò.

Thuyền đã tới bến

Cô hãy cho tôi lên, thuyền cô dần trôi triền miên

Kìa ánh trăng đã loáng giòng sông sáng ngời

Năm năm lưu lạc giang hồ

Nhớ quê, nhớ cả dáng cô lái đò xinh.

 

Đó là lời bài Chiều Tím ngày xưa, nay chúng ta cho là những hình ảnh ước lệ, nhưng thời đó coi như khá mới mẻ. Và tác phẩm Chiều Ân Giang, con sông chính nằm trong lòng quê hương chúng tôi, ai là người xa cố lý mà không thương nhớ con sông thân yêu này:

 

Trăng đã lên bâng khuâng mây in trên giòng Ân Giang

Sông nước lăn tăn huy hoàng trầm trăng sáng

Theo nước lên mang mang gió phương xa vừa dâng

Chiều Ân Giang trời sao êm đềm!

Hỡi sông thân yêu

Mà năm tháng, trời xanh mây trắng

Hằng soi bóng với bao con thuyền nhẹ buông

Mỗi lần rời bước xa lòng quê hương

Trái tim ta không hề quên gió trăng trên giòng nước Ân Giang.

Đây triền sông mà ta hằng thương mến

Ta về đây tìm sống lại những ngày

Đây là nơi mà biết bao kỷ niệm

Giữ hồn ta lại cố hương trọn đời&

 

Và đây, Làng Tôi:

 

Làng tôi bóng in trên giòng nước hiền,

Bờ tre xanh ngắt, nắng chiều êm

Quanh năm dân đinh vui việc đồng áng

Lúa khoai vun trồng gắng công ngày đêm.

Hỡi đồng lúa xanh tươi

Hỡi giòng nước tháng năm đầy vơi

Khúc ca thanh bình ai hát lên lừng vang

Làng tôi thêm tươi sáng.

 

Một hôm chiến chinh lan rộng tới làng

Bờ tre xơ xác, ngõ vườn hoang

Lăm lăm dân đinh buông cầy cầm súng

Ước mong trở về khi nào giặc tan&

 

Nhạc cách mạng:

 

“ Phụ nữ Hoa Lư một ngày thu

Sao lòe ánh mắt sắc trời lên trông tóc chói huy hoàng

Gió mênh mang thổi bay giòng sống vinh quang

Cờ lau ngàn xưa chiều đan ngợp gió Thúy Sơn

Sầu đọng ngàn đời&

Nghe vang sông núi những lời thề xưa.”

 

Nhạc Giáng Sinh:

 

“Giữa chiều đời muôn sóng gió

Mình Chúa sinh ra nơi hang bò lừa nghèo khó

Sao không về đây với ánh sáng Thiên Đường

Đang nằm nơi đâu hỡi dân chúng muôn phương

Cớ sao lại để Chúa một mình chơ vơ

Giữa đêm đông lạnh vắng như tờ

Nhìn tuyết trắng rơi khắp lối

Nơi hang đá lạnh tăm tối

Lòng mẹ Maria xót xa tơi bời”

 

Không biết tôi có chủ quan lắm không khi nghĩ tới những kỷ niệm nơi quê nhà, “cây đa bến cũ, con đò ngày xưa”, những lời châu ngọc ấy thực vừa đủ cho một bài thơ, một ca khúc, dù ở đây chưa ghi một nốt nhạc. Bài Chiều Tím được xuất bản ở Hà Nội trước năm54, bài Làng Tôi in trên một tờ báo Xuân xa xưa.

 

Những bản phổ nhạc vào thơ cũng rất đáng ghi nhớ: Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử, Tống Biệt của Tản Đà, Thuyền Đi của Huy Cận, Tỳ Bà Hành của Phan Huy Vịnh dịch thơ Bạch Cư Dị, Mầu thương Nhớ, Lạc Giữa Đường Thi của Nguyễn Duy Diễn (4)&

          

Ôi, còn nhiều nữa mà Đường Xưa Lối Cũ đã làm tôi phải rưng rưng nước mắt. Và không biết bản nhạc sau đây có phải là tác phẩm cuối cùng anh viết vào thời di cư năm 1954 tại Hà Nội. Nào hay tôi thuộc nó bao giờ, vì khi đó, sự lo lắng “đi hay ở” đã chiếm hết nỗi lòng của chúng tôi. Bản nhạc rất ray rứt, đúng như tâm trạng của những ai sắp bỏ đất Bắc vào Nam:

 

Rồi mai đây, theo gió bốn phương

Lòng nặng sầu vui ta cất bước lên đường

Thầm nhớ nhau, nhớ những ngày vui ấy

Ôi biết bao kỷ niệm, bao nhớ thương.

Còn gặp nhau hôm nay ta cứ luôn vui hoài

Cùng vui hát

Tuy rồi mai, xa biệt nhau

Nhưng tình không phai.

 

Hy vọng một ngày nào, những bản nhạc này được ghi lại, bất cứ dưới hình thức nào, vì chúng ta đều biết rằng không gì để lại cho con cháu quí giá bằng gia tài tinh thần, có tiền cũng không thể mua nổi.

 

Đường Xưa Lối Cũ đã giúp cho chúng tôi nhớ tới quê hương mà hiện nay hầu như đã vuột khỏi tầm tay, có chăng chỉ còn lại những kỷ niệm đẹp của một thời dĩ vãng mà bây giờ dù có về sống nơi đó chăng nữa, cũng chẳng còn tìm lại được.

 

“Ngồi ở một quán nước cạnh bờ sông, nơi ngày xưa có một quán thịt chó, nhìn sang phố Ngoài, tôi không tìm thấy được nét gì quen thuộc ngoài tháp nhà thờ họ Rosa do ông nội tôi xây cách đây gần 100 năm, và cây cầu Ngói bắc qua sông Ân Giang.”

   (trích Đường Xưa Lối Cũ trang 207).

 

Bất hạnh thay!

                                                     

Hồ Linh Vũ Ngọc Anh                                                     

Mùa Xuân Kỷ Sửu, 2009

 

(1) Thời đó, chúng tôi xưng hô với các ông như vậy.

(2) Trong hai mươi năm qua, các nhà Đại Nam, Cơ Sở Đông Phưong, Cơ Sở Kinh Doanh, Tự Lực, Xuân Thu xuất bản và phát hành gần hai mươi tác phẩm văn chương của tôi, trong đó, tôi có viết một số kỷ niệm về quê hương Phát Diệm, Như Tân, nhưng không biết sao lúc nào tôi cũng thấy thiếu một cái gì đó thực quan trọng. Đến nay, tác phẩm Đường Xưa Lối Cũ của Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh ra đời, tôi mới thở phào nhẹ nhõm vì tôi đã biết những gì mình thiếu.

(3) Bài Mẹ, trong Tùy Bút Hồ Linh xuất bản năm 1997 tại San Jose.

(4) Một số những bài này tôi có in, có cả phần nhạc, trong Tùy Bút Hồ Linh.

 

 

Số lần đọc:  390