Gioi Thieu Tac Pham


Hát với Solidarnosc. Thơ chọn lọc  Nguyên Hoàng Bảo Việt
Trìệu Tử Dương. Hồi ký  Đoàn Thanh Liêm
Gửi Em. Thơ tuyển  Vũ Lưu Xuân
Đường Thi. Thơ tuyển.  Tâm Huyền-Cao Tiêu
Trở về. Thơ tuyển  Hàn Thiên Lương
Bến Tầm Xuân. Tiểu luận  Trần Kiêm Đoàn
Mạn đàm . Quan điểm  Đ .Thanh Liêm & Phạm X. Yêm
Văn nghệ giao lưu. Tham luận  Trần Kiêm Đoàn
Vào Xuân - Thơ Tuyển  Ngô Minh Hằng

Ðỗ Bình                                                                                                                      

Cảnh Đời Hư Ảo 

Chiều trên sông Seine nắng vàng ngả long lanh mặt nước tựa ánh trăng đêm, bờ xa mấy con sóng bạc nhấp nhô rẽ theo chiếc du thuyền trắng như đám mây nổi chở đầy khách du ngoạn. Vừa chớm thu trời se se lạnh, gío hiu hiu không đủ làm dòng sông gợn sóng nhưng hàng cây ven bờ vẫn lao xao, thỉnh thoảng có chiếc lá vàng nhẹ rơi. Cứ mỗi độ thu, vào những ngày cuối tuần Ðăng thường ra sông Seine một mình ngồi nghe tiếng sóng vỗ để nhớ về những dòng sông quê. Cơn gió lùa thoáng qua hơi lạnh làm sảng khoái tâm hồn, Đăng hít mạnh nhưng vẫn dõi mắt nhìn chiếc lá lững lờ trôi. Chàng thầm nghĩ: «Nếu cuộc đời êm như dòng sông thì tâm hồn chàng sẽ chẳng dâng bão tố! Như thế những danh từ chiến tranh, thù hận và tình yêu cũng trở thành vô nghĩa».

Ðăng đang thả hồn theo chiếc lá, bỗng những giọng Việt Nam chen lẫn tiếng cười làm chàng sực tỉnh, lòng cảm rộn rã vì nơi mảnh trời xa xôi này thoáng được nghe ngôn ngữ, làn điệu quê hương rất ấm áp phát ra quanh đây. Chàng ngoái lại ngắm nhóm khách du lịch người Việt đang đi dọc theo bờ sông, trông cách ăn mặc của họ chàng biết đây là đám nhà giàu mới từ Việt Nam sang Paris. Quần áo và nữ trang của họ rất đắt tiền, loại dành cho những buổi dự dạ tiệc, có lẽ đây là những thành phần có quyền thế nên trưng diện như thế? Nhìn họ bảnh bao mà chàng chạnh lòng nhớ đến quê mẹ, mảnh đất còn nghèo đói. Ký ức một thời trước và sau chiến tranh, khúc phim dĩ vãng chợt quay về. 

Ông bà ngoại Ðăng ngày trước không giàu, ngoài một số ít ruộng đất ở quê và một hiệu buôn nhỏ ở Hà Nội, nhờ biết cần kiệm và chịu khó làm việc nên gia đình ngoại cũng dư gỉa; dù có tính cần kiệm nhưng ông bà lại rất hảo tâm, hay làm phước bố thí cho kẻ nghèo. Do công việc buôn bán ông bà phải giao tiếp với những khách hàng thuộc nhiều thành phần mà chẳng quan tâm đến các đảng phái, nhưng ông bà lại rất nhiệt tình ủng hộ những phong trào yêu nước nên chẳng bỏ sót lần đóng góp nào, nhất là những tuần lễ vàng do Việt Minh phát động. Ngoại có tám người con mà một nửa đã theo tiếng gọi Việt Minh lên đường, trong số đó có mấy người đã mất tích và chết trên chiến khu Việt Bắc, chỉ còn sống sót mỗi cậu giáo út! Những người con còn lại theo những chí hướng Quốc Gia, hai người bác của Đăng đều gia nhập quân đội Cộng Hòa, và đều bị tử trận hồi tết Mậu Thân, và chiến trường Quảng Trị! Bà dì ruột chị của mẹ chàng cho đến ngày nhắm mắt vẫn chưa một lần quay về đất Bắc. Bên nội Ðăng là ngoại kiều, bố chàng là người lai sinh và lớn lên ở Paris làm y sĩ, có một thời gian phục vụ tại bệnh viện De Lanessan (Ðồn Thủy) ở Hà Nội.

Sự mâu thuẫn âm ỉ trong gia đình ngoại đã ăn vào xương tủy lâu ngày nên gia đình thiếu vắng hẳn tiếng cười! Mẹ Ðăng ngậm ngùi khóc, kể:

- «Bà ngoại con buồn vì sự chia rẽ, anh em trong nhà thù lẫn nhau nên ngoại gìa trước tuổi!»

Trong số các anh chị em cậu giáo Tú là em út, người mẹ Ðăng thương nhất. Cậu ở chung với ông bà và thường ghé thăm chị và cho quà các cháu. Nhưng bỗng dưng cậu biệt tích! Mãi sau này di cư vào Nam nghe mẹ kể cậu đã theo Việt Minh lên chiến khu chống Pháp, và chính cậu đã lẻn về Hà Nội khuyên gia đình nên sang Pháp để tránh hiểm họa sau này, nhưng mẹ Ðăng vì thương những người thân nên nấn ná chưa kịp đi thì hiệp định Genève chia đôi đất nước xảy ra!

Vào Sài Gòn mẹ Ðăng là một nhà buôn, bà đang làm ăn phát đạt thì gia đình chàng có giấy hồi hương về Pháp, mẹ Ðăng thương anh chị nên không muốn rời quê hươngvì bà đã từng sống bên ấy. Chàng vì thương mẹ nên ở lại. Sau này khi chiến tranh trở nên khốc liệt, một số người bạn Pháp của mẹ là nhân viên sứ quán khuyên Ðăng nên về Pháp, nhưng chàng cứ dùng dằng. Tự ái không cho phép chàng trốn tránh chiến tranh, dù rằng không thích, vì nó đã hủy diệt bao mầm sống, cướp đi bao người thân của chàng. Nhưng chàng cũng không thể làm ngơ khi các bạn xa gần của chàng nhiều người đã hy sinh vì lý tưởng, nằm xuống cho ước vọng tự do quê hương để giữ an lành cho bao kẻ khác, trong đó có gia đình chàng. Do đó chàng theo tiếng gọi lên đường dấn thân vào chốn hiểm nguy không phải để tìm vinh quang hay làm người hùng, mà chỉ mong giữ sự bình yên xóm làng, và cũng để trả nợ núi sông nơi đã sinh ra chàng.                                                                          

***

Biến cố tháng tư năm 75, chàng cùng chung số phận với bao chiến hữu khác bị đi tù nhiều năm, và được thả về vì lý do bệnh tật. Chàng được gia đình đưa vào bệnh viện Bình Dân tiếp tục điều trị, nhờ đầy đủ phương tiện chữa trị nên sức khỏe chàng dần dần khá nhiều, mắt đã hồi phục được một phần ánh sáng. Một hôm người thân đến thăm cho biết cậu Tú đã hưu trí và hiện đang ở nhà mẹ chàng tại Sài Gòn, nghe tên cậu lòng chàng vẫn lạnh băng, không cảm xúc! Hình ảnh của cậu Tú khi xưa đã nhạt nhòa trong ký ức!

 Ngày chàng xuất viện thay vì về thẳng kinh tế mới, mẹ Đăng đã chạy cho chàng về tạm trú nhà mẹ, ở đây hai cậu cháu bất đắc dĩ phải chạm mặt nhau. Cậu Tú khuôn mặt lạnh như đá, chẳng chút tình cảm. Đã thế cậu thường hay khiêu khích, mỉa móc trong mỗi câu chuyện nói với các bà chị cố ý cho Đăng nghe. Cậu oang oang tuyên truyền khoe thành tích chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu. Lúc đầu chàng còn nể tình cậu cháu nên im lặng, sau thấy cậu làm quá nên đã đốp chát lại. Chàng đem sự nghèo đói của VN ra so sánh với các nước Âu Mỹ, cứ mỗi lần như thế cậu Tú lại giả đò ngủ gà ngủ gật để tránh rơi vào ngõ bí, đúng là thủ thuật CS!

Tình trạng xung đột ấy cứ âm ỉ kéo dài cho đến một hôm mấy người bạn cũ đến thăm Ðăng. Trông mặt cậu có vẻ hớn hở, bớt hậm hực khi biết cả đám ấy đang phục vụ cho nhà nước. Họ có vẻ rất nể trọng cậu, và còn có nhã ý mời cậu cùng đi ăn. Trong lòng cậu hả hê, nhưng vẫn làm mặt nghiêm, giả bộ từ chối. Mẹ Ðăng thấy thế nói thêm vô, và cậu nhận lời, Cả nhóm cùng kéo nhau lên phố Tự Do vào một nhà hàng sang trọng, nơi dành riêng cho người nước ngoài và cán bộ. Ðây là lần đầu kể từ ngày Sài Gòn đổi tên chàng trở lại chốn quen thuộc này nên bỗng xúc động. Con đường xưa vẫn thế dù đã thay tên nhưng dấu tích kỷ niệm vẫn còn. Vỉa hè vẫn tấp nập người qua lại nhưng người hôm nay trong những bộ quần áo xốc xếch thiếu lượt là. Màu sắc lộng lẫy của con đường năm xưa đã tắt ngỏm vì hồn thành phố đã chắp cánh bay xa!

 Bước vào trong nhà hàng cảnh sắc trang trí bàn ghế vẫn thế, chàng thấy rạo rực tâm hồn như vừa tìm lại một kỷ vật lâu ngày đánh mất. Nhưng niềm hân hoan vội chùng xuống, có cái gì nghèn nghẹn chặn nơi cổ họng; thì ra quanh đây lố nhố những chiếc nón cối ngả nghiêng trên bàn. 

Mọi người ngồi xuống bàn, Dũng gọi những món ăn, rượu ngoại và bia xuất khẩu. Ðăng không biết uống rượu nên chỉ thích ăn, nhìn những món hảo vị bày ra chàng chợt nhớ những năm đói lạnh trong tù, chàng đã thèm từ mẩu đường, hạt muối hay nhánh tóp mỡ. Nhớ đến những bạn tù còn đang khốn khó trong các trại giam lòng cảm chua xót và ngồi thừ ra! Mùi cá hấp và chim bồ câu quay hương bay lên thơm phức, nhưng chàng chẳng còn thiết tha ăn.

Cậu Tú ăn uống rất tự nhiên như một nhà sành điệu, không biểu hiệu ngỡ ngàng gì. Rượu đã mềm môi cậu vẫn uống, cậu có vẻ rất hảo rượu! Từ lúc rời nhà đến giờ mới thấy nét mặt cậu tươi, môi nhỏe nụ cười. Cậu gật gù mở miệng khen rượu ngon. Cả bọn đồng ồ lên!

- “Rượu Mỹ đấy cậu!”

Cậu Tú chẳng nói gì, nét mặt phẳng lì, vươn vai thò tay cầm chai rượu tự động rót cho mình rồi nâng ly nốc cạn.

Ánh đèn vàng vọt của nhà hàng tỏa ra ấm cúng, những chiếc bàn đầy khách thường xa nhau như giữ một khoảng cách, chắc họ sợ người khác nghe chuyện của mình. Người mặc chiếc áo xanh đã cũ ngồi cạnh cậu Tú là Dũng trắng, gốc “rau giá,” nó tốt nghiệp cử nhân Văn Khoa làm báo chí được vài năm, đổi nghề khi miền Nam đứt phim. Bố nó ngày trước là một trí thức theo Mặt Trận Giải Phóng bị chết trên Trường Sơn, bạn bè ai cũng biết nhưng tình cảm đối với nó vẫn đậm đà thắm thiết, chẳng có gì ảnh hưởng với chung quanh. Nó được hoãn dịch vì lý do gia cảnh mẹ già con một, nay đang làm công nhân sở vật tư nên rất dư giả. Bỗng cao hứng nói:

- “Bao mùa Noel rồi chúng mình không có dịp đón réveillon chung. Noel này mình gặp nhau chung vui đi?”

Phong râu, gốc “Hố Nai” ngồi đối diện với cậu Tú, học ở Luật, tốt nghiệp cùng năm với Dũng. Ngày trước nó được hoãn dịch vì lý do sức khỏe diện “con ông cháu cha” bố và ông nó đều chết trong tù CS, nay đang làm ở sở thương nghiệp cũng khấm khá. Nó toe toét cười nói:

- “Chúng ta sẽ cùng nâng cốc rượu đón mừng Chúa giáng  sinh. Hồng ân Thiên Chúa sẽ mang hạnh phúc đến với gia đình chúng ta.”

Cậu Tú bỗng dằn ly rượu xuống phán một câu chóe lửa:

- “Chẳng có Chúa Phật gì cả! Chỉ có Bác thôi... Bác mới có khả năng đem hạnh phúc no ấm đến toàn dân.”

Dũng trắng đốp liền:

- “Chẳng có Bác biếc gì cả ! Chỉ có đô la Mỹ là no ấm thôi»

Cậu Tú đùng đùng nổi giận đứng phắt dậy, khoa chân múa tay trợn mắt nói:

- «Chúng mày tưởng các ông chiến thắng tạm bợ hả? Ðừng có hòng... liệu cái hồn đấy!»

Ðám bạn Ðăng biến sắc về sự cố bất thường này chưa biết phải phản ứng ra sao! Cậu định nói nữa thì thằng bạn ngồi cạnh Ðăng là giáo viên cấp ba ngày trước, thuộc loại thày giỏi, nay bị hạ xuống cấp hai. Nó gốc xứ Quảng, được mệnh danh là kẻ ít nói! Lê Khang đứng phắt dậy kề tai cậu nói nhỏ. Chẳng biêt nó nói gì mà cậu Tú xìu như trái bóng và ttừ từ ngồi xuống. Một đứa vội tiến ra quầy tính tiền, những đứa còn lại điệu cậu ra xe.

Thật hú hồn! May mà chẳng ai nghe được những điều cậu nói, nếu không thì cả đám tù mút mùa!

Lên xe cậu Tú nhũn người ra, ngoẹo đầu vào thành xe ngủ một giấc đến nhà. Bước chân xuống xe cậu lại tỉnh queo! Tiễn bạn về, ra xe Ðăng hỏi thằng bạn xứ Quảng:

- «Lê Khang! Mày nói gì mà ông cậu tao xìu thế? …Xuýt tí nữa là chúng mình đi tù cả đám!»

Lê Khang cười khoái trá nói:

- «Tao nói phét cậu mày sợ! »

Cả đám trố mắt nhìn nó. Nó vỗ vai Ðăng cười nói tiếp:

- «Tao cũng sợ toát mồ hôi… nhưng bỗng dưng tao phọt được một câu mà tao mang máng đọc được ở đâu nên nói bừa: «Tôi là người của sở bảo vệ chính trị được lệnh theo dõi cậu trong thời gian ở trong Nam… thế là ông xìu xuống.»

Cả bọn cười rũ lên khoái trá, một cán bộ gộc mà sợ một câu hù vu vơ của thằng công nhân viên quèn, thế mới biết chế độ CS kiểm soát lẫn nhau quả khiếp thật! Khi đám bạn đi khuất rồi, Ðăng quay vào nhà kể cho mẹ nghe, bà tức giận mắng cậu như tát nước! Cậu Tú mếu máo khóc và phân trần, hai chị em cùng khóc! Riêng Ðăng chưa hả giận, chàng nghi là cậu muốn hại mình. Vốn sẵn bất đồng vì chính kiến, nay sự vìệc càng trầm trọng hơn khiến chàng quên hẳn tình cậu cháu, một ý nghĩ cực ác lóe trong đầu, Ðăng hành xử như kẻ mộng du, xồng xộc vào phòng xách mấy chai rượu mạnh mà mẹ chàng dùng để điếu đóm đám công an phường. Bà thấy Ðăng mang nhiều rượu ra định cản vì không sợ cậu Tú uống nhiều hại đến sức khỏe, nhưng bà lại muốn hai cậu cháu có dịp ngồi với nhau để xả bớt sự căng thẳng bấy lâu và nhất là chyện mới đây. Bà dặn:

- «Cậu con già rồi, cho cậu uống ít chứ … Ðể cậu ngủ, sáng mai lại sức tha hồ uống.»

Ðăng vâng dạ cho qua và tiếp tục làm theo kế hoặch. Chàng khui chai Whisky, khui thêm chai Martel Rémi, mùi rượu thơm phức! Chàng thường nghe bạn bè nói rượu pha hai ba thứ rất dễ say. Ðưa hai chai rượu lên xoay xoay soi trong ánh điện, như tìm cái chất tinh khiết trong rượu, chàng muốn khêu gợi con sâu rượu trong cậu. Mắt cậu Tú sáng quắc… Thế là Ðăng đã chài được cậu! Những thỏi đá trong ly rượu lóng lánh như kim cương đang mời gọi, màu rượu làm tăng độ óng ả thơm như hương môi thiếu nữ tuổi giậy thì. Cậu cạn ly này sang ly khác. Mặt cậu Tú không giống những tấm bia hình tượng trong những bãi tập bắn ở quân trường, khuôn mặt sáng sủa cuả cậu bắt đầu chảy ra, môi tái, run lên bần bật. Ly rượu trên tay cậu sóng sánh, chao đi chao lại làm đổ, chàng được dịp rót thêm cho đầy. Cậu Tú bắt đầu nhũn ra, người rút lại, cậu bỗng thều thào lè nhè kể lại chuyện gia đình năm xưa, những đìều Ðăng không hề biết. Giọng cậu buồn như tiếng võng giữa trưa hè, lòng Ðăng chợt bùi ngùi xót xa như lọt vào một câu chuyện buồn cổ tích! Chàng thấy hối hận về những ý nghĩ điên rồ của mình và bừng tỉnh, mồ hôi toát ra như tắm. Chàng cầm ly rượu của cậu uống cạn, rượu xông lên tận óc, cháy rụi cả lồng ngực. Ðây là lần đầu tiên trong đời chàng uống rượu, uống mừng vì vừa thoát một tội ác. Nếu sự việc xảy ra cậu Tú chết vì uống quá nhiều rượu do trúng gío, thì lương tâm chàng cũng sẽ không bao giờ đưọc yên ổn, suốt đời bị dằn vặt! Ðăng bàng hoàng thầm nghĩ: «Chàng ghê tởm chủ thuyết CS chứ đâu thù ghét con người. Cậu Tú chỉ là nạn nhân, kẻ mê sảng chủ nghĩa… Xuýt nữa chàng đánh mất mình!»

Ðăng thu vội mấy chai rượu cất xuống gầm bàn, cậu Tú định giựt lại nhưng không được. Cậu ngoe nguẩy trong tiếng nấc cụt và thều thào:

- «Rượu ngon lắm, cậu còn uống được mà… để cho cậu uống.»

Chàng vói tay tắt chiếc quạt đứng cạnh đó đang xoay hết tốc độ, sợ cậu bị nhìễm lạnh, dù trời đang oi bức. Cậu Tú lại thều thào định nói với Ðăng điều gì nhưng chẳng nghe rõ, rồi cậu rũ ra ghế ngủ. Trong men rượu chợp chờn hình như cậu có hai con người: Con người hiện tại là con người CS đầy rẫy những ham muốn nhưng biết che nấp dưới nhãn hiệu «yêu nước». Cái não trạng của cậu đã chứa đầy tính đảng nên chỉ biết vâng lời và sẵn sàng hy sinh dấn thân vào tội ác dù biết bị lừa dối! Còn con người thứ hai là con người mang thuần tính người, biết lý lẽ của con tim nhưng phải nhẫn nhục để tồn tại. Hai thực thể ấy mâu thuẫn nhưng luôn hiện hữu và dằn vặt nhau.

Ðăng sát lại gần cậu, lúc này chàng mới có dịp nhìn thật kỹ cậu và cảm thấy thương xót: Một thân hình tiều tụy còm cõi nào có khác gì tù nhân?! Ôi bao nhiêu năm tận tụy với đảng nào cậu có được gì ngoài danh từ hão! Những nghiệt ngã đớn đau đã giáng ngay lên đầu cậu đến bố mẹ bị đảng đấu tố cũng không dám mở miệng can ngăn hay than phiền. Chủ thuyết phi nhân đến thế mà vẫn trung thành, thật uổng phí một đời ! 

Ðăng bế cậu vào giường, người cậu mềm như bún. Chàng ra tủ lấy hộp dầu con hổ vào cạo gío khắp toàn thân cho cậu, chàng còn thức suốt đêm canh chừng cậu. Chưa hừng sáng đường phố Sài Gòn đã tấp nập, tiếng ồn ào của xe cộ lẫn tiếng người buôn bán nghe huyên náo. Dù bị công an rượt đưổi cấm chợ ngăn đường nhưng không cản được dân, cấm chỗ này họ bày chỗ khác, vì miếng cơm manh áo họ đã bớt sợ họng súng. Cậu Tú thức dậy nhìn thấy Ðăng ngồi bên cạnh giường và đang quạt cho cậu. Bằng một giọng đầy xúc động:

- «Con thức cả đêm không đi ngủ hả?»

Ðây là lần đầu tiên từ hôm gặp mặt cậu buông lời trìu mến như lời cha với con. Ðăng mỉm cười thấy như vừa trút đi một gánh nặng.

Kể từ sáng hôm ấy những móng vuốt chủ nghĩa, những cùm gông cách mạng, những hão huyền lý tưởng đều vụt bay. Nơi ấy chỉ còn lại tình gia đình sau bao năm nẫu nát. Cậu Tú trở lại nguyên hình với con người bằng xương thịt, máu mủ huyết thống. Gương mặt rười rượi của cậu sáng hẳn lên, ánh mắt thoáng nét vui. Môi run run cậu hé mở cõi lòng:

- “Hai chị ạ ! Ðã từ lâu em đợi giây phút này để được bày tỏ nỗi lòng cùng các chị: Trong giai đoạn «cải cách ruộng đất» ông bà về thăm quê bị đội cải cách bắt ghép tội là điạ chủ cuờng hào, có con theo thực dân, phản động nên bị đem đấu tố. Mẹ buồn mà chết vì sự bạc bẽo, phản phúc của những người trong đội đấu tố, họ đã từng được gia đình ta giúp trong lúc nghèo đói túng thiếu! Bố thì bị đày lên Thái Nguyên và bỏ xác trên đó! Những người thân còn lại ở Bắc chẳng ai dám hé môi can thiệp, hay một lời van xin giúp, có người còn cải tên đổi họ để tránh liên lụy!

Bá vừa khóc, hỏi:

«Thế lúc đó cậu ở đâu?»

Cậu Tú mếu máo:

« Hai chị ạ ! Trong giai đoạn chỉnh lý, thanh trừng xảy ra khắp nơi ấy em bị đưa đi công tác xa, mãi Thanh Hóa!»

Giọng cậu Tú ngập ngừng, đứt khúc buồn bã:

«Em vì đã quá sợ cấp lãnh đạo đảng ghép tội liên hệ với gia đình phản động, nên đã hèn yếu khi hay tin bố mẹ bị bắt mà không cấp tốc trở về quê bảo lãnh… Thật đáng tội ! lúc đó em vẫn ngây thơ tin vào Đảng, cứ ngỡ nhà ta có nhiều người hy sinh ở chiến khu Việt Bắc thì họ không dám đấu tố bố mẹ, nhưng đâu ngờ họ lại phủi công khiến bố mẹ ra nông nỗi ấy! Cũng vì chuyện đó em xin phục viên không những không được mà còn bị hạ tầng công tác! Xin hai chị cứ mắng nhiếc và lượng thứ cho em!»

Mấy chị em nức nở chan hòa nước mắt.

Bá ngừng khóc nói:

- «Thôi em ạ, đằng nào bố mẹ cũng mất lâu rồi… nhắc lại chuyện cũ chỉ thêm buồn. Nhưng nếu chẳng làm sáng tỏ thì lòng các chị đây không yên. Hôm nay chị mới hiểu rõ nội tình, biết em cũng đau khổ thì sao các chị còn trách em được nữa.»

Cậu Tú đứng lên tiến lại bàn thờ tổ có cả hình thờ ông bà ngoại mồm lâm râm khấn và thắp nén nhang.

Ðăng trố mắt nhìn cậu, thì ra chủ thuyết CS không diệt được lòng tín ngưỡng ẩn trong cậu, bỗng chàng cảm thấy đời vui lên. Gia đình chàng đa tôn giáo: Mẹ Đăng đạo Phật, bà dì lấy chồng Công giáo nên theo đạo, Đăng theo bên nội nên đạo Chúa, giờ Cậu Tú sau nhiều năm theo CS nhưng gốc vẫn đạo ông bà.

 Sau khi thắp nhang cậu Tú quay về chỗ cũ tiếp tục nhắm rượu, cậu cũng mong Ðăng thông cảm cho những thái độ quá quắt về định kiến đã trở thành một thói quen của người CS. Còn chàng lòng cũng đầy ăn năn của đứa cháu vẫn xem cậu là kẻ thù!

Bữa cơm trưa hôm đó thật ấm cúng như cơn mưa đã tạnh. Cậu ngâm nga trong cốc rượu, bùi ngùi kể cho gia đình nghe những đắng cay cơ cực mà cậu đã trải qua trên đất bắc. Ba chị em cùng khóc. Mẹ Ðăng nói:

- «Gia đình nghèo như thế sao cậu không viết thơ xin?»

Bá Ðăng khóc bùi ngùi hỏi:

- «Em là cán bộ mà khổ như thế sao không bỏ quách vào Nam từ năm bảy lăm thì có đỡ hơn không?»

Cậu nghẹn ngào:

- «Rõ tội! Nếu biết sự tình như thế em đã theo các anh chị vào Nam hồi năm mươi tư thì còn gì nói…. Khốn thay… em lại ngỡ trong Nam bị kìm kẹp chắc phải khổ hơn ngoài Bắc nhiều! Chẳng thế hôm vào thăm hai chị và các cháu em có mua mấy cân đường, định mang vào biếu hai chị… nhưng vào đây, thấy nhà hai chị em xấu hổ quá… Do đó em  đã nói láo cho đỡ thẹn!»

Bá Ðăng vẫn khóc, thổn thức nói:

- «Chị em mà xấu hổ cái gi! Còn gặp được nhau là qúy rồi! »

Cậu Tú quay sang Ðăng gọng trầm buồn:

- « Bằng mọi gía con phải đi nước ngoài con ạ! Quê hương này sinh ra con nhưng không dưỡng được đâu !…. Người ta chỉ tạm gác thù hận qua một bên, khi cần họ lại mang ra bêu xấu hoặc đổi chác! Những người như con khó sống chung được với họ!… Cũng chính vì các anh chị của cậu người theo Pháp  kẻ theo Mỹ mà bao năm cậu chỉ là chiếc bóng trong đảng CS, họ dùng nhưng không tin! Họ cho cậu sống là may đấy con! Trong đảng mà trù ếm nhau thì còn ác hơn loài thú dữ!»

Bá nổi giận:

- «Chúng nó ác như như thế mà trời lại không tru diệt nó! Thà chị chết trong Nam chứ không trở về Bắc!»

    

 ***

Paris, một hôm Ðăng nhận đưọc thư gia đình báo tin cậu Tú mất lòng chàng buồn rười rượi! Trong thư có hình tấm ảnh chụp một căn nhà tranh xơ xác nằm bên bờ sông nơi vùng quê hẻo lánh. Nếu không có khung hình cậu trên cỗ quan tài thì chẳng bao giờ Ðăng dám nghĩ cậu Tú lại sống cơ cực như thế! Ôi cả đời cậu hy sinh cho một lý tưởng huyền hoặc những tưởng mang đến sự công bằng phúc lợi cho mọi người, nào ngờ ngay chính bản thân cậu sống trong cơ cực nghèo đói, bị chèn ép, đố kỵ bởi chính tình «đồng chí» ! Từ ngày rời quê Ðăng chưa lần trở lại, mẹ chàng vẫn ở lại vì muốn được chết trên quê hương, bà viết thư sang muốn chàng đừng về dù cho mai này bà có nhắm mắt cũng an tâm. Bà dặn dù ở bất cứ nơi đâu hãy nhớ mãi hình ảnh đất mẹ trong tim vì sông nào cũng đều chảy ra biển cả. Chàng thầm nghĩ: «Nếu chẳng có những lời ru tha thiết ngọt ngào đầy man trá của chủ thuyết CS làm mê hoặc những kẻ mộng du, cùng với bao tham vọng của những kẻ hám quyền lực tạo cơ hội cho ngoại cường giành xé, thì quê mẹ đâu phải lầm than đổ nát, rạn vỡ tình người, và gia đình ngoại đâu phải ly tán!»  

Bóng chiều tắt, dòng sông Seine rực rỡ muôn ánh điện với những chiếc du thuyền lộng lẫy ngược xuôi. Ngồi trên tàu đìện ngầm trở về nhà mà đầu chàng vẫn miên man hình ảnh đám du khách VN quần áo sang trọng hồi chiều, họ là những nhà «tư bản đỏ» trông thật béo tốt tươi tắn, chẳng bù cho những bà mẹ già còm cỏi da bọc xương, một thời được vinh danh xếp vào loại gia đình liệt sĩ vì có con có chồng bỏ xác ở Trường Sơn. Những mái đầu bạc đó hiện đang sống trong cô đơn hiu quạnh nơi quê nhà, phải tất tả chạy gạo từng bữa để tự nuôi thân thì lấy tiền đâu du lịch? Huống chi những người dân đen thấp cổ bé miệng chắc còn khổ biết chừng nào?! Chàng nghe tin đất nước ngày nay đã thay đổi, phải thay đổi để có thể theo kịp các cường quốc Ðông Nam Á và Á Châu thì đó là điều đáng mừng. Nhưng rất tiếc sự thay đổi đó chỉ là sự chuyển từ «cái xấu này sang cái xấu khác» khiến xã hội hôm nay càng tha hóa hơn! Ðăng thẫn thờ về một mảng đời chợt đến của dĩ vãng
                                                                                          
*** 

Sáng nay trước hàng hiên nhà có chùm hoa vàng mới nở, cánh hoa mong manh trong nắng gợi khơi niềm nhớ. Chàng bỗng thương quê mẹ, mảnh đất còn nhiều dấu tàn phá chiến tranh, những vết hận thù mà thời gian chưa đủ xóa! Ở đó chàng đã mất quá nhiều, chỉ còn lại kỷ niệm. Tiếng chuông nhà thờ bên khu phố cổ vọng lại lâng lâng tâm hồn, xa xa những vần mây trắng nối đuôi nhau không biết về đâu cuối trời? Ðăng chạnh nhớ đến những người thân và bằng hữu một thời lòng bỗng bùi ngùi. Một thoáng yên lặng cho những người thân, những người đã nằm xuống vì ý nghĩa tự do..và những linh hồn ly hương phiêu bạt…

Đỗ Bình, Paris

Số lần đọc:  407